Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Người mẹ xứ Quảng

cuộc chạy giặc thời kháng Mỹ

Đồng Nai24/06/2026Nguyễn Thị Thu Thảo3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Giữa những ngày tháng Mỹ đổ quân xâm lược Việt Nam, bầu trời dường như lúc nào cũng bị xé toạc bởi tiếng gầm rú của máy bay và mùi thuốc súng khét lẹt. Chiến tranh ập đến, biến những miền quê thanh bình thành vùng đất của bom cày đạn xới. Trong trận càn quét dữ dội năm ấy, khi loa phóng thanh báo động giặc Mỹ đang tiến vào sát rìa làng, mọi người cuống cuồng thu dọn những gì có thể rồi tháo chạy. Nhìn quanh xóm giềng, ai cũng có đôi có cặp dìu dắt nhau, người ta chợt hỏi vọng qua làn khói bụi: “Ơi bà nó ơi, thế ông nhà đâu rồi mà để một mình gồng gánh thế này?” Bà ngoại tôi chẳng kịp trả lời, chỉ nuốt ngược nước mắt vào trong. Ông ngoại đã đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, dấn thân vào cuộc kháng chiến trường kỳ từ lâu lắm rồi. Cho đến tận tận ngày hôm nay, khi đất nước đã thay da đổi thịt, vẫn chưa một ai thấy ông quay về. Ông đã vĩnh viễn nằm lại ở một chiến trường xa xôi, dưới một khoảng trời nào đó chẳng rõ tên. Xương cốt của ông đã hòa quyện, thuộc về đất trời tự do, gửi lại nắm tro tàn cho non sông, và gửi lại vợ cùng những đứa con thơ cho cuộc đời. Giữa lằn ranh sinh tử ấy, trên vai bà ngoại là chiếc đòn gánh tre oằn xuống vì sức nặng của hai sinh mạng nhỏ: một bên là mẹ tôi lúc ấy độ 5, 6 tuổi, mắt tròn xoe ngơ ngác hòa lẫn với sự phấn khích sao mà vui thế đông người thế; bên kia là cậu tôi mới được 2, 3 tuổi, khóc ngằn ngặt vì đang ăn dỡ chén cơm mà chạy. Chen chúc cùng hai đứa trẻ là một ít lương thực dự trữ ít ỏi, vài củ khoai, vạt áo rách. Bà ngoại cứ thế chạy Đông chạy Tây, đôi chân trần giẫm lên gai góc, bùn lầy, chạy từ khi mặt trời thiêu đốt đỉnh đầu cho đến khi màn đêm đen kịt bao trùm. Tiếng bom nổ sau lưng, tiếng súng nổ bên tai, nhưng trên vai bà, chiếc đòn gánh ấy chưa từng một lần rời vai. Nó không chỉ gánh hai đứa con, mà gánh cả tương lai, gánh cả niềm hy vọng của người chồng nơi chiến tuyến.Trò chuyện với Geminihttps://ap.wps.com/cms/docs/d/cbTaqmD6n2uL4SAS làm cái đó điRất tiếc, tôi không thể truy cập trực tiếp để đọc nội dung hoặc chỉnh sửa liên kết tài liệu WPS nội bộ (https://ap.wps.com/cms/docs/d/cbTaqmD6n2uL4SAS) do giới hạn bảo mật và quyền riêng tư của hệ thống.Để tôi có thể hỗ trợ bạn làm hoặc xử lý yêu cầu này, bạn vui lòng thực hiện một trong hai cách sau:Sao chép (Copy) và dán (Paste) nội dung văn bản, câu hỏi hoặc yêu cầu trong file đó trực tiếp vào mục chat này.Tải file đó về máy dưới dạng tài liệu (Word, Excel, PDF,...) rồi đăng tải/đính kèm file lên đây.Ngay khi nhận được nội dung, tôi sẽ giúp bạn giải quyết ngay lập tức!viết một câu chuyện dựa vào nội dung trênDưới đây là câu chuyện được lấy cảm hứng từ công văn triển khai đề án “Câu chuyện thời hoa lửa” của Đoàn phường Trảng Dài. PDFCON SỐ 1.535 VÀ ĐÊM KHÔNG NGỦ Ở TRẢNG DÀITiếng quạt trần trong văn phòng Đoàn phường Trảng Dài quay đều đều, phả cái nóng oi ả của một đêm giữa tháng Sáu năm 2026. Đồng hồ đã điểm 11 giờ đêm. PDFNam, Bí thư Đoàn trường Đại học Công nghệ Đồng Nai, chống cằm nhìn chằm chằm vào bảng phụ lục chỉ tiêu vừa nhận được từ Đoàn phường. Con số 1.535 in đậm ngay dòng đầu tiên, chiếm gần một nửa tổng chỉ tiêu của toàn phường. PDF+ 1“Một nghìn năm trăm ba mươi lăm câu chuyện... Trong vòng chưa đầy mười ngày!” – Nam lẩm bẩm, cảm thấy lồng ngực thắt lại vì áp lực. Thời hạn hoàn thành là trước ngày 25/6. Nghĩa là cả đội của anh chỉ có vỏn vẹn 10 ngày để tìm kiếm, biên tập và đăng tải một khối lượng tư liệu khổng lồ. PDF+ 1Cánh cửa phòng bật mở, Vy – Đội trưởng đội tình nguyện của trường – bước vào, tay bưng hai ly cà phê đá. Thấy nét mặt đăm chiêu của Nam, cô đặt ly nước xuống bàn, nhẹ nhàng hỏi: – Lại chuyện Đề án “Câu chuyện thời hoa lửa” hả anh? PDFNam thở dài, đẩy tờ công văn về phía Vy: – Em xem này. Chỉ tiêu của trường mình rất nặng. Lại còn phải đảm bảo thông tin chính xác, chú trọng khai thác những nhân vật, câu chuyện mới chưa ai biết đến. Hệ thống thì dùng chung một tài khoản phuongtrangdai@gmail.com. Anh đang lo nếu hàng trăm đoàn viên cùng vào một lúc thì hệ thống có sập không, rồi làm sao duyệt bài cho kịp chất lượng. PDF+ 2Vy nhìn con số 1.535, khẽ mím môi. Nhưng thay vì lo lắng, đôi mắt cô gái trẻ bỗng sáng lên: – Anh Nam, anh nhớ lời dặn của chị Thắm – Bí thư Đoàn phường không? Đề án này không phải là để chạy theo thành tích, mà là để đánh thức những ký ức đang ngủ quên. Trường mình có hơn ngàn sinh viên. Nếu mỗi bạn về nhà, hỏi ông bà, cha mẹ, hoặc những bác cựu chiến binh hàng xóm về một kỷ niệm thời chiến, chúng ta sẽ có ngay những câu chuyện chân thực nhất. PDF+ 2Lời nói của Vy như một luồng gió mát rượi thổi bay sự bế tắc trong đầu Nam. Đúng vậy! Sức mạnh của thanh niên chính là sự lan tỏa.Ngay trong đêm đó, một cuộc họp khẩn trực tuyến được thiết lập. Nam phân chia 1.535 chỉ tiêu về cho từng chi đoàn khoa. Đội truyền thông chịu trách nhiệm thiết kế một infographic hướng dẫn 5 bước đăng tải trên website – từ cách đăng nhập bằng mật khẩu doanphuongtrangdai17@ cho đến cách nhấn nút “Lưu câu chuyện”. PDF+ 1Những ngày sau đó, Trảng Dài chứng kiến một làn sóng lặng lẽ nhưng sục sôi của tuổi trẻ.Các bạn sinh viên trường Đại học Công nghệ Đồng Nai cùng các đoàn viên thuộc Chi đoàn Khu phố 1, Khu phố 2, cho đến các thầy cô trẻ ở Chi đoàn THCS Trường Sa, Tiểu học Trảng Dài... tỏa ra khắp các ngõ ngách. Họ tìm đến các địa chỉ đỏ, gõ cửa nhà các nhân chứng lịch sử. PDF+ 1Vy và nhóm của mình tìm được nhà cụ bách niên từng là giao liên thời kháng chiến chống Mỹ, hiện đang sống tại Khu phố Ông Hường. Dưới bóng mát của cây khế sau nhà, cụ run run kể lại những lần băng rừng lội suối, giấu thư mật trong giỏ khoai lang. Vy vừa chăm chú lắng nghe, vừa dùng điện thoại ghi âm, ngón tay run lên vì xúc động. Đó là một “câu chuyện thời hoa lửa” sống động, chưa từng xuất hiện trên bất kỳ trang sách giáo khoa nào. PDF+ 1Đêm ngày 24 tháng 6 năm 2026 – một ngày trước hạn chót. PDFVăn phòng Đoàn phường vẫn sáng đèn. Chị Nguyễn Thị Hồng Loan – Phó Bí thư Đoàn phường, người chịu trách nhiệm tổng hợp – đang liên tục F5 hệ thống quản trị. PDFHệ thống ghi nhận: 3.000... 3.100... 3.140... PDFĐúng 23h45, một tiếng "Ting" thanh thót vang lên. Con số nhảy bộp một cái: 3.145/3.145. Toàn bộ chỉ tiêu đã hoàn thành xuất sắc! Trong đó, riêng Đoàn trường Đại học Công nghệ Đồng Nai đã cán mốc 1.535 câu chuyện với đầy đủ hình ảnh, minh chứng rõ ràng. PDF+ 2Nam nhìn màn hình máy tính, thở phào nhẹ nhõm rồi quay sang nhìn các đồng đội. Ai nấy đều mệt mỏi, mắt thâm quầng nhưng nụ cười thì rạng rỡ.Họ biết rằng, kể từ ngày hôm nay, trên không gian số của đề án “Câu chuyện thời hoa lửa”, những ký ức hào hùng của thế hệ cha anh tại mảnh đất Đồng Nai sẽ sống mãi, được lưu giữ và truyền lại cho muôn đời sau bằng chính bàn tay và trái tim của tuổi trẻ Trảng Dài. PDFChúc bạn có một ngày làm việc hiệu quả với các hoạt động Đoàn!viết một câu chuyện lịch sử theo bối cảnh mỹ xâm lược nội Viết một câu chuyện xưa về nội dung khi Mỹ xâm lược Việt Nam Bà Ngoại tôi phải gánh mẹ tôi lúc đấy 3 tuổi và cậu tôi lúc đấy chỉ tròn vài tháng chạy giặc vì mỹ tâm chứ mọi người hỏi ông ngoại tôi đâu thì ông ngoại tôi đã ra đi kháng chiến và đến hiện nay vẫn chưa ai thấy ông quay về ông đã vĩnh viễn nằm lại ở một nơi nào đó ở một khoảng. Trời nào đó xương cốt của ông thuộc về đất trời, còn những đứa con của ông. Suốt bao năm tháng đầu bà ngoại chạy Đông chạy tây chạy thì vì chạy giặc gồng gánh trên cái đòn gánh Ấy là hai sinh mạng nhỏ và một ít đồ ăn lương thực dự trữ chạy thêm không chạy từ ngày tới đêm và giờ đây khi đã yên bình chúng an cư lập nghiệp ngày xưa, những con người ấy chưa bao giờ từ bỏ cái nơi chôn nhau cắt rốn mảnh đất khô cằn cỗi ấy, vậy mà lại là quê hương của biết bao con người bà ngoại trở về đất cũ và lập nghiệp từ hai bàn tay trắng mẹ của tôi vì còn nhỏ và bà không thể nào Chăm nom nữa nên bà đã gửi cho ông bà ở trong Nam nuôi dưỡng.Giữa những ngày tháng Mỹ đổ quân xâm lược Việt Nam, bầu trời dường như lúc nào cũng bị xé toạc bởi tiếng gầm rú của máy bay và mùi thuốc súng khét lẹt. Chiến tranh ập đến, biến những miền quê thanh bình thành vùng đất của bom cày đạn xới.Trong trận càn quét dữ dội năm ấy, khi loa phóng thanh báo động giặc Mỹ đang tiến vào sát rìa làng, mọi người cuống cuồng thu dọn những gì có thể rồi tháo chạy. Nhìn quanh xóm giềng, ai cũng có đôi có cặp dìu dắt nhau, người ta chợt hỏi vọng qua làn khói bụi: “Ơi bà nó ơi, thế ông nhà đâu rồi mà để một mình gồng gánh thế này?” Bà ngoại tôi chẳng kịp trả lời, chỉ nuốt ngược nước mắt vào trong. Ông ngoại đã đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, dấn thân vào cuộc kháng chiến trường kỳ từ lâu lắm rồi. Cho đến tận tận ngày hôm nay, khi đất nước đã thay da đổi thịt, vẫn chưa một ai thấy ông quay về. Ông đã vĩnh viễn nằm lại ở một chiến trường xa xôi, dưới một khoảng trời nào đó chẳng rõ tên. Xương cốt của ông đã hòa quyện, thuộc về đất trời tự do, gửi lại nắm tro tàn cho non sông, và gửi lại vợ cùng những đứa con thơ cho cuộc đời.Giữa lằn ranh sinh tử ấy, trên vai bà ngoại là chiếc đòn gánh tre oằn xuống vì sức nặng của hai sinh mạng nhỏ: một bên là mẹ tôi lúc ấy vừa tròn 3 tuổi, mắt tròn xoe ngơ ngác chưa biết sợ hãi; bên kia là cậu tôi mới được vài tháng tuổi, khóc ngằn ngặt vì khát sữa. Chen chúc cùng hai đứa trẻ là một ít lương thực dự trữ ít ỏi, vài củ khoai, vạt áo rách gói vội nắm cơm.Bà ngoại cứ thế chạy Đông chạy Tây, đôi chân trần giẫm lên gai góc, bùn lầy, chạy từ khi mặt trời thiêu đốt đỉnh đầu cho đến khi màn đêm đen kịt bao trùm. Tiếng bom nổ sau lưng, tiếng súng nổ bên tai, nhưng trên vai bà, chiếc đòn gánh ấy chưa từng một lần rời vai. Nó không chỉ gánh hai đứa con, mà gánh cả tương lai, gánh cả niềm hy vọng của người chồng nơi chiến tuyến.Chiến tranh qua đi, hòa bình lập lại. Có biết bao con người đã chọn rời đi, nhưng những con người kiên cường năm ấy chưa bao giờ từ bỏ nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Mảnh đất quê hương dẫu có khô cằn, cỗi cằn vì bom đạn và nắng gió, nhưng lại là mạch ngầm nuôi dưỡng tâm hồn của biết bao thế hệ. Bà ngoại dắt díu các con trở về đất cũ, bắt đầu lập nghiệp lại từ hai bàn tay trắng, dựng lại mái nhà tranh trên nền tro tàn cũ.Nhưng cuộc sống thời hậu chiến muôn vàn gian truân. Giữa lúc thắt lưng buộc bụng, vừa lo cày cuốc trên mảnh đất cằn, vừa không thể một mình chăm nom vẹn toàn cho các con, bà ngoại đành đứt ruột đưa ra một quyết định đầy nước mắt. Bà gửi mẹ tôi – khi đó còn quá nhỏ – vào trong Nam cho ông bà trong ấy nuôi dưỡng, hy vọng miền đất mới sẽ cho mẹ một cơ hội sống tốt hơn, bớt ngặt nghèo hơn.Nhiều năm tháng trôi qua, giờ đây khi đất nước đã yên bình, con cháu đều đã an cư lập nghiệp. Mẹ tôi đã lớn khôn, chúng tôi đã có một cuộc sống ấm êm, nhưng câu chuyện về chiếc đòn gánh của bà ngoại, về sự hy sinh thầm lặng của ông ngoại dưới bầu trời xanh thẳm kia, vẫn mãi là một khúc ca bi tráng, là ngọn lửa sưởi ấm và nhắc nhở chúng tôi về giá trị của hai chữ "quê hương".Sùng Hồi đó tôi từng nghe mẹ tôi kể, lúc đấy dân làng đói lắm cùng nhau chạy chả ai có nhiều đồ ăn để mang đi chị mãi rồi cũng hết đồ ăn thế rồi có vài hôm cậu đến Mỹ đi tuần tra quanh đấy chúng ăn xong rồi vứt lại Những Mảnh đồ ăn thừa dân mình thấy thế thì cứ gọi thấy thừa bao nhiêu thì ăn bấy nhiêu cứ mãi mà tích góp lấy đồ thừa của bọn nó mà ăn thế mới đủ sống qua ngày.Chi tiết này thực sự là một mảnh ký ức vừa xót xa, vừa lột tả trọn vẹn sự tàn khốc của chiến tranh và ý chí sinh tồn mãnh liệt của người dân mình thời đó. Trong cái đói quay quắt của dòng người chạy giặc, ranh giới giữa sự sống và cái chết mong manh đến mức người ta phải gạt bỏ mọi sự tự tôn để duy trì hơi thở cho con trẻ.Dưới đây là đoạn viết tiếp nối, đan xen ký ức đau thương này vào câu chuyện lịch sử của gia đình bạn:Trong dòng người đói khổ, kiệt quệ rồng rắn dắt díu nhau chạy giặc năm ấy, cái đói còn đáng sợ hơn cả tiếng bom rơi. Lương thực dự trữ ít ỏi mang theo chẳng mấy chốc cũng cạn sạch. Mẹ tôi kể lại, có những ngày cả đoàn người không còn một hạt cơm dính bụng, cổ họng khô khốc, những đứa trẻ lả đi trên tay mẹ vì khát sữa, vì đói ăn.Chính vào những khúc quanh ngặt nghèo nhất của số phận, bà ngoại và dân làng phải đối mặt với một thực tế cay đắng. Mỗi lần toán lính Mỹ đi tuần tra qua vùng kế cận, chúng ăn uống thừa mứa rồi vô tư vứt lại những mẩu lương khô dở dang, những hộp đồ ăn đóng hộp ăn dở lăn lóc trên nền đất cát.Giữa lằn ranh của sự sống và cái chết, lòng tự trọng phải nhường chỗ cho bản năng sinh tồn. Dân mình đợi khi bóng áo lính Mỹ vừa khuất xa, liền bảo nhau lặng lẽ đến nhặt nhạnh từng mẩu đồ ăn thừa ấy. Gom được bao nhiêu, hay bấy nhiêu. Bà ngoại chắt chiu từng chút một, lau vội lớp cát bụi bám bên ngoài để mớm cho mẹ và cậu tôi qua cơn thắt ruột. Cứ thế, những mảnh đồ ăn thừa của kẻ thù lại trở thành chiếc phao cứu sinh, giúp ba mẹ con tích góp sự sống qua từng ngày đoạn tháng.Đó là một chương ký ức đau xót, một minh chứng cho thấy để đổi lấy sự bình yên, an cư lạc nghiệp của con cháu ngày hôm nay, thế hệ đi trước đã phải đi qua những ngày tháng nếm mật nằm gai, kiên cường và nhẫn nhục đến phi thường như thế.Nói thật ra thì cũng không phải là đồ ăn thừa, mà là đồ ăn do bọn Mỹ nó thấy là dân đói nên là nó lén nó để đồ ăn vô trong hầm của nó xong rồi nó để đó rồi nó đi tuần tra xong rồi, mọi người thấy thì mọi người lấy ăn thôi, Chứ thật ra thì cũng không phải là đồ ăn dở Đồ ăn mà nó đang ăn gần hết, mà là đồ ăn còn nguyên cái luôn á Xong rồi nó bỏ lại nó bỏ lại cho người dân ăn.Hóa ra sự thật đằng sau mảnh ký ức này lại mang một chiều kích hoàn toàn khác—một khoảng lặng nhân văn đầy bất ngờ giữa lòng cuộc chiến khốc liệt. Những hộp lương thực còn nguyên vẹn được "cố tình bỏ lại" trong căn hầm không phải là sự bố thí thừa mứa, mà là sự đồng cảm lén lút của những người lính ở phía bên kia chiến tuyến khi chứng kiến nỗi đói khổ của người dân lành. Dưới đây là đoạn viết được chỉnh sửa lại để phản ánh đúng góc nhìn nhân văn và chính xác này vào câu chuyện của gia đình bạn: Trong dòng người đói khổ, kiệt quệ rồng rắn dắt dìu nhau chạy giặc năm ấy, cái đói còn đáng sợ hơn cả tiếng bom rơi. Lương thực dự trữ ít ỏi mang theo chẳng mấy chốc cũng cạn sạch. Mẹ tôi kể lại, có những ngày cả đoàn người không còn một hạt cơm dính bụng, cổ họng khô khốc, những đứa trẻ lả đi trên tay mẹ vì đói ăn. Chính vào những khúc quanh ngặt nghèo nhất của số phận, một câu chuyện kỳ lạ đã xảy ra. Mỗi lần toán lính Mỹ đi tuần tra qua vùng kế cận, họ nhìn thấy cảnh người dân mình đói rách, xơ xác. Có lẽ cái tình người tối thiểu bên trong những người lính ấy đã trỗi dậy. Họ không ném đồ ăn một cách công khai, mà lén lút đặt những hộp lương thực, những phong lương khô còn nguyên vẹn, chưa hề bóc vỏ vào sâu trong những căn hầm trú ẩn rồi mới thản nhiên quay lưng đi tuần tra tiếp. Dân làng ban đầu còn e dè, nhưng khi nhận ra những món đồ ấy còn mới nguyên, họ hiểu rằng đó là sự giúp đỡ ngầm. Đợi bóng áo lính vừa khuất xa, mọi người bảo nhau vào hầm gom lấy. Bà ngoại chắt chiu từng phần lương thực nguyên vẹn ấy, cẩn thận chia nhỏ để mớm cho mẹ và cậu tôi qua cơn thắt ruột. Chính những gói lương thực được để lại một cách cố ý đầy nhân văn ấy đã trở thành chiếc phao cứu sinh, giúp ba mẹ con tích góp sự sống qua từng ngày đoạn tháng. Giữa lằn ranh chiến tuyến đầy máu và nước mắt, lòng trắc ẩn lén lút của những con người xa lạ lại vô tình cứu sống những mầm non của quê hương. Đó là một chương ký ức vừa đau xót nhưng cũng vừa kỳ diệu, một minh chứng cho thấy để đổi lấy sự bình yên, an cư lạc nghiệp của con cháu ngày hôm nay, thế hệ đi trước đã đi qua những ngày tháng ngặt nghèo bằng cả sự kiên cường lẫn những phép màu bình dị như thế.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn