Người mở đường cho những đoàn quân tiến công
"Trung tướng Vương Thừa Vũ là một nhà lãnh đạo chỉ huy ưu tú… là con người trung thực, tính tình nghiêm nghị với tấm lòng nhân hậu, cương trực thẳng thắn nhưng coi trọng đoàn kết thống nhất…, rất mực dân chủ và yêu thương chiến sĩ…".
Trung tướng Vương Thừa Vũ. Một chiến sĩ cộng sản không khuất phục trước kẻ thùChứng kiến những thất bại của các phong trào yêu nước ở trong nước, người thanh niên Nguyễn Văn Đồi nhận thức sâu sắc rằng muốn đánh đuổi quân xâm lược không chỉ dùng võ nghệ, mà cần phải có cả những kiến thức về quân sự. Do đó ông ngày đêm miệt mài đèn sách, dự thi và trúng tuyển vào trường Quân sự Hoàng Phố. Sau gần 4 năm học tập, ra trường, ông tìm cách liên lạc với các tổ chức cách mạng và các nhà yêu nước Việt Nam để tìm đường về nước hoạt động.Năm 1941, khi đang trên đường trở về nước, Nguyễn Văn Đồi bị thực dân Pháp bắt, giam tại căng Bá Vân (Thái Nguyên), sau đó đưa về Hỏa Lò (Hà Nội). Một thời gian sau, chúng lại đưa ông lên giam tại căng Nghĩa Lộ (Yên Bái). Với tinh thần của một chiến sĩ cộng sản, không khuất phục trước kẻ thù, trong tù, Nguyễn Văn Đồi cùng những đồng chí của mình vẫn tích cực hoạt động, vừa tiến hành công tác binh vận để xây dựng lực lượng, vừa bí mật tổ chức huấn luyện quân sự, chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa khi có thời cơ.Ông thường dùng võ nghệ để bảo vệ anh em tù nhân. Có lần, trên đường bị dẫn giải từ nhà tù Hỏa Lò lên nhà tù Nghĩa Lộ, một tên lính lấy báng súng thúc vào lưng anh em tù. Thấy vậy, mặc dù tay đang bị trói và bị lồng dây vào nhau, nhưng Nguyễn Văn Đồi đã gồng hai bàn tay chặt gãy báng súng của tên lính. Thấy vậy, những tên lính đó vô cùng khiếp sợ.Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp độc chiếm Đông Dương. Nhân thời cơ này, Nguyễn Văn Đồi cùng một số đồng chí lên kế hoạch tổ chức vượt ngục. Kế hoạch bị lộ, nhưng với sự nhanh nhẹn và mưu trí, ông vẫn thoát khỏi nhà tù. Ông cùng một số tù nhân chính trị tản vào rừng, nhưng do trời tối nên lạc đường và bị một tốp người dân tộc thiểu số bắt đưa về bản để nộp cho quân Pháp. Vốn nhanh trí, lại biết nói tiếng dân tộc, ông tự xưng mình mang họ Vương[3] (vì ông thấy họ gọi nhau như vậy). Thấy vậy, những người dân trong bản nhanh chóng cởi trói và tiếp đón ông như những người bạn. Họ còn cho người dẫn ông đi xuyên rừng để tránh bọn lĩnh dõng.Luôn được cấp trên tin tưởngLà một chiến sĩ cách mạng kiên trung, lại được đào tạo bài bản về quân sự, Nguyễn Văn Đồi luôn được cấp trên tin tưởng. Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được đồng chí Văn Tiến Dũng (lúc đó là Chính ủy Chiến khu 2[4] giao nhiệm vụ mở lớp bồi dưỡng cán bộ cấp trung đội và đại đội tại Ba Thá - một điểm giáp ranh giữa ba huyện Chương Mỹ, Mỹ Đức và Ứng Hòa (nay thuộc Hà Nội). Đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn vì vấn đề lớn đặt ra là làm thế nào để bảo đảm chỗ ăn, ở, tài liệu học tập cho học viên.Thực hiện lời căn dặn của Chính ủy Văn Tiến Dũng: “Phải dựa chắc vào địa phương”, đồng chí đã nhanh chóng liên hệ với chính quyền địa phương, gặp gỡ các đồng chí trong ban lãnh đạo tỉnh Hà Đông để trình bày ý định của trên về việc mở lớp huấn luyện quân sự, mong nhận được sự giúp đỡ của nhân dân và chính quyền địa phương. Nhờ sự vận động đó, lớp học được ủy ban các địa phương Chương Mỹ, Mỹ Đức, Ứng Hòa cùng các đoàn thể quần chúng nhiệt tình ủng hộ gạo, tiền và xây dựng lớp học. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ông được điều sang Sơn Tây làm huấn luyện viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn.Ngày 15-10-1946, ông được Trung ương Đảng giao nhiệm vụ làm Khu trưởng Khu 11 (Hà Nội)[5]. Trong buổi giao nhiệm vụ, đồng chí Trường Chinh nhấn mạnh: “Ngay từ bây giờ phải nhanh chóng chuẩn bị đầy đủ, sẵn sàng ở tư thế chiến đấu để nếu địch trở mặt gây hấn thì ta lập tức đánh trả lại ngay; phải kìm chân địch ở Hà Nội trong một thời gian để cả nước chuyển sang chiến tranh; phải huy động sức mạnh tiềm tàng của nhân dân thành phố vào cuộc chiến đấu, đồng thời phải biết bảo toàn, bồi dưỡng lực lượng ta để đánh lâu dài”[6].Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp căn dặn: “Nghiên cứu âm mưu địch; nắm chắc lực lượng ta, đặc biệt chú ý lực lượng tự vệ thành; làm kế hoạch tác chiến, chỉ huy phải kiên quyết, linh hoạt… Công việc lớn đấy, nhiều khó khăn, phải tích cực khắc phục, nhanh chóng chuẩn bị đầy đủ để sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tốt. Kiên quyết đánh thắng ngay từ đầu[7].
Thiếu nữ Hà Nội chào đón Trung tướng Vương Thừa Vũ dẫn đầu Đại đoàn Quân Tiên Phong về tiếp quản Thủ đô bên hồ Hoàn Kiếm. Ảnh tư liệu Chỉ huy quân và dân Hà Nội chiến đấu thắng lợiVới lực lượng sẵn có, quân Pháp huênh hoang tuyên bố đánh chiếm Hà Nội trong vòng 24 tiếng, sẽ bắt sống toàn bộ lãnh đạo và nhân viên Chính phủ. Chúng còn gửi tối hậu thư bắt ta hạ vũ khí đầu hàng. Để Chính phủ có thời gian rút lên chiến khu an toàn, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ, cấp trên giao nhiệm vụ cho Khu 11 phải chiến đấu giam chân địch ít nhất trong hai tuần. Xác định rõ trách nhiệm nặng nề, ông bắt tay vào nghiên cứu, xây dựng phương án tác chiến, đề nghị cấp trên phê chuẩn. Bằng chiến thuật “Trong đánh ngoài vây” (Trùng độc chiến), cả Hà Nội đã đứng lên với các vùng lân cận và cả nước chi viện cho Hà Nội.Thực hiện ý đồ chiến thuật “Trong đánh ngoài vây”, Tiểu đoàn 101 tiến vào Liên khu 1, thực hiện đánh từ trong ra, buộc địch phải tập trung lực lượng đối phó. Các đơn vị khác ở Liên khu 2 và 3 thực hiện đánh từ ngoài vào, buộc địch phải phân tán, không thể tập trung lực lượng đánh ra vùng tự do. Ngoài ra, Chỉ huy trưởng Vương Thừa Vũ còn chỉ đạo các đơn vị thực hiện tiến công địch bằng chiến thuật “cài then”, “xoáy trôn ốc”, chặn đầu đánh vòng phía sườn và sau lưng địch, gây cho chúng nhiều tổn thất. Phối hợp với lực lượng vũ trang, nhân dân Hà Nội đã tổ chức đào chiến hào, đục xuyên tường nối liền giữa các nhà để cơ động. Đồng thời, tiến hành đắp chiến lũy, đào các đường ngầm dưới lòng đất từ Hàng Bông ra Cửa Nam, từ Bắc Bộ Phủ sang khách sạn Metropol, từ trại Vệ quốc đoàn sang rạp chiếu bong Majetstic (nay là Rạp Tháng Tám), thực hiện chiến thuật từ trên đánh xuống, từ cống ngầm đánh lên. Nhiều tổ du kích, tự vệ liên tục tổ chức bắn tỉa quấy rối địch.Dưới sự chỉ huy của Vương Thừa Vũ, quân và dân Hà Nội đã chiến đấu thắng lợi, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giam chân đội quân chính quy đông với khoảng 6.500 binh sĩ Pháp trong thành phố suốt hai tháng, thực hiện xuất sắc chủ trương diệt địch đi đôi với bảo toàn lực lượng, tạo điều kiện cho Trung ương và Chính phủ rút lên chiến khu an toàn.Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và rút khỏi Hà Nội, đồng chí Vương Thừa Vũ được cấp trên giao đảm nhiệm Khu phó Khu 4, trực tiếp phụ trách Phân khu trưởng Phân khu Bình - Trị - Thiên. Đầu năm 1948, Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 họp. Hội nghị đặc biệt nhấn mạnh vai trò và tầm quan trọng của việc xây dựng bộ đội chủ lực, coi đó là “Trung tâm công tác trong lúc này”. Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 28-8-1949, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Quốc gia Việt Nam quyết định thành lập Đại đoàn chủ lực đầu tiên mang phiên hiệu Đại đoàn 308. Đồng chí Vương Thừa Vũ được giao đảm nhiệm Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đại đoàn. Ngày 19-9-1954, trên đường Đại đoàn 308 tiến về tiếp quản Thủ đô, tại đền Hùng, Đại đoàn vinh dự được đón Bác Hồ đến thăm và nói chuyện với các các bộ, chiến sĩ. Trong buổi nói chuyện, Bác căn dặn: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước. Trải qua bao nhiêu thời đại đấu tranh, ông cha ta mới giữ được Thủ đô. Tám chín năm nay, do quân ta kiên quyết kháng chiến mới có thắng lợi trở về Hà Nội. Vì thế các chú được Trung ương Đảng và Chính phủ giao cho nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô là được nhận một vinh dự lớn… Các chú phải luôn giữ gìn phẩm chất cách mạng, cán bộ sống gương mẫu, giản dị, bộ đội phải kỷ luật nghiêm minh. Nếu ai cũng giữ vững lập trường cách mạng và làm đúng chính sách thì không sợ một kẻ thù nào cả”[1].
Bác Hồ nói chuyện với các chiến sĩ Đại đoàn 308 - Đại đoàn Quân Tiên Phong tại Đền Hùng, Phú Thọ, tháng 9-1954. Ảnh tư liệu
Thực hiện nhiệm vụ tiếp quản, vấn đề đặt ra đối với Đại đoàn là một mặt phải đề phòng âm mưu tráo trở và mọi hành động phá hoại của kẻ địch, bảo vệ tài sản của Nhà nước cũng như tính mạng và tài sản của nhân dân. Mặt khác, phải mang về Thủ đô luồng không khí phấn khởi tự hào với chiến thắng của dân tộc, tinh thần đoàn kết, cách mạng, phong cách sinh hoạt văn minh, lành mạnh, xua tan những phế tích mà thực dân đã để lại. Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ xác định đây là một cuộc chiến đấu hết sức phức tạp giữa cách mạng và phản cách mạng trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa, ta quyết thắng và phải thắng trọn vẹn. Ông đã chỉ đạo các lực lượng tiến hành công việc tiếp quản một cách khẩn trương và hết sức thận trọng.
Cơ quan tham mưu cử cán bộ đi trước, phối hợp với các đội công tác của Chính phủ vào thành phố để nghiên cứu tình hình các cơ quan, công sở, nhà máy mà ta chuẩn bị tiếp nhận. Đồng thời, nắm tình hình về mọi mặt để xây dựng kế hoạch tiếp quản chu đáo, để khi bộ đội vào tiếp quản Thủ đô, ta luôn giữ thế chủ động. Cơ quan hậu cần chuẩn bị các loại vật chất như gạo, củi, thức ăn và bảo đảm các nhu cầu khác. Cơ quan chính trị soạn thảo các tài liệu, in các điều quy định, các chính sách vùng mới giải phóng của Chính phủ để giáo dục sâu rộng trong cán bộ, chiến sĩ và động viên nhắc nhở bộ đội nghiêm chỉnh chấp hành. Công tác giáo dục được tiến hành liên tục với nhiều nội dung: Từ những vấn đề xây dựng quan điểm lập trường, phẩm chất đạo đức của người quân nhân cách mạng, đến việc hướng dẫn bộ đội những điều cụ thể trong sinh hoạt ở thành phố...
Ngày 2-10-1954, thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, đồng chí Trần Danh Tuyên dẫn đầu một đoàn cán bộ hành chính vào Hà Nội ký nhận bàn giao mọi mặt với đại diện Bộ chỉ huy quân đội Pháp. Tiếp đó, một số phân đội của Đại đoàn 308 được lệnh vào trước để cùng canh gác với binh lính Pháp tại các địa điểm trọng yếu.
Ngày 8-10, quân Pháp làm lễ cuốn cờ, chuyển các bộ phận như pháo binh, xe tăng sang Gia Lâm, chỉ còn để lại trong Hà Nội hai tiểu đoàn bộ binh và một số xe thiết giáp và xe vận tải. 5 giờ sáng ngày 10-10, “Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về”, dưới sự chỉ huy của Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ, Đại đoàn 308 tiến vào Hà Nội thực hiện nhiệm vụ tiếp quản.
Các chiến sĩ thuộc Đại đoàn 308 tiến vào tiếp quản Thủ đô Hà Nội, tháng 10-1954. Ảnh tư liệu
Trong hồi ký Trưởng thành trong chiến đấu, Trung tướng Vương Thừa Vũ kể: “Hôm nay Hà Nội là rừng cờ hoa. Càng tiến sâu vào trong lòng Hà Nội, càng khó nén nổi xúc động, mắt nhòa lệ vì niềm vui gặp mặt, niềm vui về lại Thủ đô, nhất là các cán bộ, chiến sĩ năm xưa đã chiến đấu trên mảnh đất này khi được lệnh ra đi đã hứa với Hà Nội sẽ trở về: 'Ra đi hẹn một ngày về, Ba Đình còn đó, người thề còn đây'. Lời hứa đó hôm nay đã thành sự thật!”.
Đồng chí Vương Thừa Vũ cùng với Ban Quân quản đã nhanh chóng ổn định tình hình, làm tốt mọi nhiệm vụ tiếp quản, giải quyết những vấn đề bức xúc về kinh tế, chính trị, xã hội, đem lại sự yên bình cho Thủ đô và niềm tin cho nhân dân vào chính quyền mới. Ngày 10-11, thay mặt Ủy ban quân chính Hà Nội, đồng chí Vương Thừa Vũ ký thông cáo của Hội đồng chính phủ quyết định thành lập Ủy ban hành chính thành phố Hà Nội do bác sĩ Trần Duy Hưng làm Chủ tịch, đồng chí Trần Danh Tuyên làm Phó chủ tịch.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô, đầu năm 1955, Đại đoàn 308 được lệnh rút ra ngoại thành, tổ chức đóng quân tập trung để tiến hành huấn luyện theo chương trình mới. Đồng chí Vương Thừa Vũ được Bộ Quốc phòng điều động và bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh quân khu Hữu Ngạn, tổ chức, xây dựng lực lượng cho các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Hòa Bình, Thanh Hóa. Đảm nhiệm cương vị mới, với những kiến thức được trang bị và kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ huy dạn dày, đồng chí đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ rèn binh, luyện cán, sẵn sàng chi viện lực lượng cho tiền tuyến, phục vụ công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Trung tướng Vương Thừa Vũ và bác sĩ Trần Duy Hưng cùng cán bộ, chiến sĩ nghiêm trang làm Lễ chào cờ tại sân Cột Cờ, Hà Nội, tháng 10-1954. Ảnh tư liệu
Góp phần làm phong phú nghệ thuật quân sự độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam
Năm 1964, đồng chí Vương Thừa Vũ được giao nhiệm vụ làm Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, phụ trách công tác huấn luyện cho các lực lượng chủ lực bảo vệ miền Bắc cũng như các đơn vị bộ đội và cán bộ vào miền Nam đánh Mỹ. Ngoài ra, đồng chí còn được giao nhiệm vụ Giám đốc Học viện quân chính, kiêm Tư lệnh Quân khu 4 (1964 - 1971). Đồng chí đã đem hết nghị lực, trí tuệ, tài năng, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, có nhiều đóng góp vào sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh, đặc biệt là trong công tác nhà trường Quân đội, góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Trên cương vị Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, hằng ngày, sau mỗi cuộc điện từ chiến trường báo cáo về, đồng chí yêu cầu Cục Tác chiến thể hiện lên bản đồ tác chiến và đưa ra một số câu hỏi yêu cầu đơn vị giải đáp. Sau đó, đồng chí cùng các cục: Khoa học quân sự, Quân huấn, Nhà trường nghiên cứu trao đổi rút ra các kết luận khách quan và điện phổ biến ngay cho các chiến trường.
Với tác phong gần gũi và thân thiết, mỗi khi trên đường đi công tác, đồng chí thường hỏi cán bộ cấp dưới những câu hỏi về người lính, về chỉ huy cấp phân đội. Đồng chí thường nói với cán bộ, sau mỗi trận đánh không thắng, không nên đổ tại người lính, chỉ huy phải chịu trách nhiệm hoàn toàn. Đồng chí còn nhấn mạnh: Tình thương cao nhất với chiến sĩ là giúp họ có bản lĩnh chiến đấu để tránh thương vong, sau trở về đoàn tụ với gia đình, quê hương, do đó người chỉ huy phải là tấm gương về học tập, rèn luyện, lắng nghe cấp dưới, chịu chung cái khó, cái khổ với họ.
Trung tướng Vương Thừa Vũ, Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308, Chủ tịch Ủy ban Quân chính Thành phố Hà Nội với các nữ sinh trường Trưng Vương vây quanh tặng hoa chúc mừng bên hồ Hoàn Kiếm trong Ngày Giải phóng Thủ đô. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Là một cán bộ được đào tạo bài bản về quân sự, trải qua nhiều cương vị chiến đấu, đồng chí Vương Thừa Vũ đã viết nhiều tác phẩm quân sự, khái quát và nêu lên nhiều vấn đề về nghệ thuật quân sự có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc góp phần vào công tác huấn luyện và xây dựng lực lượng vũ trang hùng mạnh, đủ sức đánh bại kẻ thù xâm lược. Ông còn có biệt tài dùng thơ để đúc kết những kinh nghiệm đánh địch hết sức ngắn gọn, súc tích để cán bộ, chiến sĩ dễ nhớ, dễ vận dụng trên bãi tập cũng như vào trận đánh. Điển hình như trong bài: Cách đánh tỉa, ông viết:
Bắn gần kết hợp bắn xa
Bắn thằng phía trước cũng là xuyên hông.
Hay trong bài Vận động tấn công kết hợp chốt:
Chiến trường là chốn giao tranh
Hai bên đọ sức để giành phần hơn
Địch vào ta chặn phản công
Khẩn trương vận động hiệp đồng triển khai…
Bằng những cống hiến không biết mệt mỏi cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, năm 1974, đồng chí Vương Thừa Vũ được thăng quân hàm Trung tướng.
Có thể nói, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Trung tướng Vương Thừa Vũ đã có những cống hiến to lớn vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Quân đội và của nhân dân ta. Trung tướng Vương Thừa Vũ là tấm gương mẫu mực về sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chính trị và quân sự, lý luận và thực tiễn, coi trọng công tác tổng kết, rút kinh nghiệm, góp phần làm phong phú thêm nghệ thuật quân sự độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam.
Đồng chí Vương Thừa Vũ là người có tinh thần cầu thị, hết mực thương yêu đồng chí, đồng đội. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, đồng chí Vương Thừa Vũ là người ham học hỏi, luôn đặc biệt quan tâm đến việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; nắm vững và vận dụng sáng tạo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đường lối quân sự của Đảng, nghệ thuật quân sự độc đáo của dân tộc, kinh nghiệm của nước ngoài vào thực tiễn chiến trường Việt Nam. Điển hình như chiến thuật “Trùng độc chiến” trong cuộc chiến đấu bảo vệ thủ đô những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Hay trong đợt tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, trên cơ sở quán triệt phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ đã tổ chức chỉ huy thực hiện tốt các biện pháp tác chiến: Xiết chặt vòng vây, đánh lấn ép quân địch, lần lượt tấn công các cứ điểm ở vùng ngoài cùng, cắt sân bay, triệt nguồn tiếp tế của địch, tiến tới phá vỡ, tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm địch.
Năm 1972, khi Mỹ thực hiện đổ bộ đường không đánh phá Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố lớn, cùng với Trung tướng Phùng Thế Tài, dưới sự chỉ đạo của Tổng Tham mưu trưởng Đại tướng Văn Tiến Dũng, Trung tướng Vương Thừa Vũ theo dõi, chỉ đạo việc xây dựng phương án tác chiến của bộ đội tên lửa phòng không. Đồng chí đã có nhiều quan điểm chỉ đạo về chiến thuật đối với lực lượng phòng không, góp phần giúp quân ta hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giành thắng lợi trong Chiến dịch “12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không”.
Không chỉ là một vị tướng có tài thao lược, Vương Thừa Vũ còn là một vị tướng mẫu mực, có tác phong chính quy, tính kỷ luật cao. Từ Chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội thời kỳ đầu kháng chiến, rồi Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308, Tư lệnh Quân khu Hữu ngạn, Quân khu 3, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng chí Vương Thừa Vũ luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, kiên quyết chấp hành nghị quyết của Đảng, mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì, đồng chí cũng tận tâm, tận lực. Đồng chí luôn đặc biệt coi trọng công tác huấn luyện tác phong chính quy, coi trọng cả hai khâu rèn cán và chỉnh quân, lấy kết quả chiến đấu và thực tập làm thước đo chất lượng huấn luyện.
Với những cống hiến to lớn đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, Trung tướng Vương Thừa Vũ được Đảng, Nhà nước tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công và nhiều huân chương cao quý khác.


