NGƯỜI MỸ TREO THƯỞNG TRUY LÙNG SUỐT NHIỀU NĂM – VỊ CHỈ HUY HUYỀN THOẠI CỦA BIỆT ĐỘNG SÀI GÒN – GIA ĐỊNH
Trong lịch sử lực lượng Biệt động Sài Gòn – Gia Định, có những cái tên đã trở thành nỗi ám ảnh đối với bộ máy quân sự và tình báo Mỹ cùng chính quyền Sài Gòn. Trong số đó, Đại tá Nguyễn Đức Hùng, với các bí danh Tư Chu và Ba Tam, được xem là một trong những người chỉ huy tài ba và quả cảm nhất. Trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cái tên “Ba Tam” từng khiến đối phương ăn ngủ không yên. Dù bị truy lùng ráo riết, treo thưởng với số tiền lớn và trở thành mục tiêu s
Nguyễn Đức Hùng sinh tháng 10 năm 1928 tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (nay thuộc xã Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh theo đơn vị hành chính hiện hành).
Tuổi thơ của ông gắn liền với những năm tháng cơ cực. Từ quê nhà miền Trung, ông theo gia đình vào Nha Trang rồi sau đó lưu lạc đến Sài Gòn kiếm sống bằng nhiều nghề khác nhau.
Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 bùng nổ, chàng thanh niên Nguyễn Đức Hùng đã tham gia giành chính quyền tại Sài Gòn.
Sau khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Nam Bộ, ông được tổ chức đưa đi huấn luyện quân sự và nhanh chóng tham gia các hoạt động vũ trang trong vùng địch kiểm soát.
Năm 1947, Nguyễn Đức Hùng được giao chỉ huy đơn vị biệt động mang phiên hiệu 2766 trực thuộc Đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn.
Đây là giai đoạn hình thành những viên gạch đầu tiên cho nghệ thuật tác chiến biệt động đô thị sau này.
Đơn vị của ông hoạt động chủ yếu dọc hai bờ sông Sài Gòn và liên tiếp tổ chức các trận đánh táo bạo vào những khu vực trọng yếu như Thị Nghè, Bà Chiểu, Đa Kao và trung tâm thành phố.
Những đòn tiến công bất ngờ ấy khiến đối phương nhiều phen hoang mang, đồng thời khẳng định hiệu quả của phương thức chiến tranh đặc biệt giữa lòng đô thị.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, Nguyễn Đức Hùng tập kết ra miền Bắc.
Tại đây, ông tiếp tục học tập quân sự, công tác trong Quân đội nhân dân Việt Nam và phục vụ tại Sư đoàn 335.
Nhưng chiến trường miền Nam vẫn luôn là nơi ông hướng về.
Năm 1961, ông trở lại miền Nam trong đoàn cán bộ mang mật danh “Phương Đông 1” với nhiệm vụ xây dựng mạng lưới chiến đấu bí mật trong nội đô Sài Gòn.
Đây là một nhiệm vụ cực kỳ nguy hiểm.
Giữa sự kiểm soát dày đặc của mật vụ, cảnh sát và quân đội đối phương, việc gây dựng cơ sở cách mạng đòi hỏi sự mưu trí, kiên nhẫn và bản lĩnh đặc biệt.
Chỉ trong thời gian không dài, Nguyễn Đức Hùng đã xây dựng được hàng trăm cơ sở bí mật hoạt động xen kẽ trong lòng đô thị, tạo thành mạng lưới hỗ trợ cho các lực lượng vũ trang cách mạng.
Năm 1965, lực lượng Biệt động Sài Gòn – Gia Định mang phiên hiệu F100 được thành lập.
Nguyễn Đức Hùng được giao trọng trách Chỉ huy trưởng.
Dưới sự chỉ huy của ông, các chiến sĩ biệt động đã thực hiện nhiều trận đánh táo bạo vào các mục tiêu được xem là bất khả xâm phạm của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
Đó là các cuộc tiến công vào Đại sứ quán Mỹ, cư xá Metropole, khách sạn Victoria, sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa và nhiều cơ sở quân sự quan trọng khác.
Những trận đánh ấy không chỉ gây thiệt hại về quân sự mà còn tạo ra tác động lớn về tâm lý.
Lần đầu tiên, đối phương nhận ra rằng ngay giữa trung tâm Sài Gòn, lực lượng cách mạng vẫn có thể tổ chức những đòn tiến công bất ngờ và hiệu quả.
Đỉnh cao trong sự nghiệp quân sự của Nguyễn Đức Hùng là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968.
Khi đó, ông giữ cương vị Phó Tư lệnh Phân khu 6 kiêm Chỉ huy trưởng lực lượng Biệt động Sài Gòn – Gia Định.
Ông trực tiếp chỉ đạo nhiều mũi tiến công đánh vào các cơ quan đầu não của đối phương trong nội đô.
Những trận đánh diễn ra giữa lòng thành phố đã làm rung chuyển bộ máy quân sự và chính trị của Mỹ cùng chính quyền Sài Gòn, trở thành một dấu mốc đặc biệt trong lịch sử chiến tranh Việt Nam.
Không chỉ bản thân Nguyễn Đức Hùng tham gia cách mạng, gia đình ông cũng là một gia đình cách mạng tiêu biểu.
Vợ ông, bà Đoàn Thị Nhỏ, thường được đồng đội gọi bằng bí danh Tư Nhỏ, là một nữ giao liên quả cảm của lực lượng biệt động.
Bà từng trực tiếp dẫn đường cho các chiến sĩ vào vị trí ém quân chuẩn bị tiến công các mục tiêu quan trọng.
Có những thời điểm, bà phải vừa làm nhiệm vụ vừa bế theo con nhỏ giữa vòng vây của đối phương.
Hai người con của ông bà cũng từng bị địch bắt giữ nhằm gây sức ép buộc gia đình đầu hàng.
Nhưng trước mọi thủ đoạn đe dọa và mua chuộc, cả gia đình vẫn giữ vững khí tiết của người cách mạng.
Sau Xuân Mậu Thân 1968, dù bị đối phương truy lùng gắt gao hơn bao giờ hết, Nguyễn Đức Hùng vẫn tiếp tục chỉ đạo xây dựng cơ sở và tổ chức các hoạt động chiến đấu cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Sau năm 1975, ông tiếp tục phục vụ trong Quân khu 7 và tham gia thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng Khmer Đỏ.
Rời quân ngũ, vị chỉ huy biệt động năm nào trở về cuộc sống đời thường với sự giản dị và khiêm nhường.
Những năm cuối đời, điều khiến ông luôn trăn trở không phải là những chiến công của riêng mình mà là sự hy sinh của nhiều đồng đội biệt động đã ngã xuống giữa lòng Sài Gòn mà chưa được nhắc đến đầy đủ.
Ông nhiều lần bày tỏ mong muốn lịch sử sẽ tiếp tục ghi nhớ và tôn vinh những con người đã âm thầm chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc.
Cuộc đời của Đại tá Nguyễn Đức Hùng là hình ảnh tiêu biểu cho bản lĩnh, trí tuệ và lòng quả cảm của lực lượng Biệt động Sài Gòn – Gia Định.
Ông đã sống giữa lòng địch nhưng luôn giữ vững niềm tin cách mạng.
Ông đã chỉ huy những trận đánh làm rung chuyển cả một bộ máy chiến tranh hùng mạnh.
Và trên hết, ông là một trong những người góp phần viết nên trang sử hào hùng của lực lượng biệt động đô thị Việt Nam – những chiến sĩ chiến đấu bằng sự gan dạ, mưu trí và lòng yêu nước tuyệt đối.
Nguyên Trực (tổng hợp)


