Người nghệ sĩ bước ra từ chiến tranh
Nguyễn Đức Toàn (1929–2016) xuất thân là người học hội họa. Năm 1944, ông học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã làm thay đổi hướng đi của cuộc đời ông: từ một người yêu hội họa, ông bắt đầu sáng tác âm nhạc và tham gia các hoạt động nghệ thuật cách mạng.
Năm 1946, Nguyễn Đức Toàn tham gia Đoàn Kịch Sao Vàng cùng nhạc sĩ Đỗ Nhuận, sau đó đi vào kháng chiến chống Pháp. Trong những năm ở chiến khu, ông không chỉ sáng tác mà còn diễn kịch, vẽ minh họa, trình bày báo và làm công tác văn nghệ. Những ca khúc như Quê em, Chiều hậu phương, Lúa mới ra đời trong thời kỳ này.
Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Nguyễn Đức Toàn được phân công phụ trách Đoàn Văn công 3 của Tổng cục Chính trị, làm nhiệm vụ đón tiếp các chiến sĩ và đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc. Năm 1955, sau khi các đoàn văn công của Tổng cục Chính trị sáp nhập, ông trở thành đoàn trưởng phụ trách Đoàn Ca múa Tổng cục Chính trị.
Từ một người bước vào kháng chiến với cây bút vẽ và cây đàn, Nguyễn Đức Toàn dần trở thành một nghệ sĩ có nhiều tác phẩm gắn với những con người của chiến tranh và cách mạng.
Đặc biệt, ông có nhiều ca khúc viết về những người đã hy sinh như “Biết ơn chị Võ Thị Sáu”, “Ca ngợi Trần Thị Lý”, “Ca ngợi Nguyễn Văn Trỗi”, “Nguyễn Viết Xuân – cả nước yêu thương”.
Điều này tạo nên một ý rất đẹp để kể:
Ông không chỉ đi qua chiến tranh; ông còn dùng nghệ thuật để lưu giữ những con người đã nằm lại trong chiến tranh.
Và ông lại trở về với hội họa
Điểm đặc biệt của Nguyễn Đức Toàn là cuộc đời nghệ thuật của ông không dừng ở âm nhạc.
Sau nhiều năm hoạt động trong âm nhạc và văn nghệ quân đội, từ khoảng năm 1980, ông trở lại chuyên tâm hơn với hội họa và trở thành hội viên Hội Nghệ sĩ tạo hình Việt Nam.


