Người nông dân 65 tuổi bước lên hàng ghế anh hùng
Giữa cuộc kháng chiến chống Pháp, cụ Hoàng Hanh không cầm súng mà chiến đấu trên những thửa ruộng cằn ở Nam Đàn. Nhờ tổ chức lao động hợp lý và áp dụng cách canh tác mới, gia đình cụ tăng năng suất nhiều loại cây trồng từ 30% đến 60%, đồng thời giúp hàng chục gia đình cùng sản xuất và đóng góp lương thực cho kháng chiến.
Tháng 5 năm 1952, hơn 150 đại biểu từ nhiều miền đất nước vượt đường rừng về Kim Bình, Chiêm Hóa, Tuyên Quang.
Họ là những chiến sĩ vừa trở về từ trận địa, những công nhân quân giới, dân quân du kích, nông dân và người lao động có thành tích xuất sắc. Giữa những con người ấy có một cụ già Công giáo đến từ vùng quê Nam Đàn, Nghệ An.
Tên cụ là Hoàng Hanh.
Cụ không có chiến công đánh xe tăng như Cù Chính Lan, không lấy thân mình mở đường qua hàng rào địch như La Văn Cầu, cũng không chế tạo vũ khí như kỹ sư Trần Đại Nghĩa. Hành trang đưa cụ đến Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất là câu chuyện về những thửa ruộng, những luống bông và những đàn gia súc được nuôi giữa thời kỳ kháng chiến.
Trước Cách mạng Tháng Tám, Hoàng Hanh là một nông dân nghèo. Cụ từng phải làm thuê, cuốc mướn để nuôi gia đình. Quê cụ có nhiều vùng đất cao cưỡng, khô cằn, sản xuất phụ thuộc vào thời tiết. Đối với người nông dân, một mùa màng thất bát không chỉ là mất công lao động mà còn có thể đẩy cả gia đình vào cảnh thiếu đói.
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, lương thực trở thành một mặt trận.
Bộ đội ngoài chiến trường cần gạo. Nhân dân vùng tự do phải vừa bảo đảm đời sống, vừa đóng góp cho kháng chiến. Người nông dân không trực tiếp cầm súng nhưng mỗi hạt thóc làm ra đều góp phần nuôi quân và giữ vững hậu phương.
Trong gia đình Hoàng Hanh có chín người. Hai người con đi học, năm người còn nhỏ; thực tế chỉ có hai lao động chính đảm đương phần lớn công việc đồng áng.
Cụ không chấp nhận để tình trạng thiếu người trở thành lý do đầu hàng cái đói.
Mỗi ngày, cụ sắp xếp công việc phù hợp với sức của từng thành viên. Người lớn đảm nhận việc nặng; trẻ nhỏ làm những việc vừa sức. Công việc của ngày hôm sau được tính trước. Buổi sáng, cả nhà ra đồng sớm; buổi tối, cụ xem lại phần việc đã hoàn thành và những việc cần điều chỉnh.
Cách làm ấy nghe rất giản dị, nhưng vào thời điểm sản xuất nông nghiệp phần lớn dựa vào kinh nghiệm và sức người, việc tổ chức lao động chặt chẽ đã giúp gia đình cụ sử dụng hiệu quả từng ngày công.
Hoàng Hanh còn tìm cách thay đổi phương pháp trồng trọt và chăn nuôi. Cụ khai phá thêm đất hoang, bố trí các loại cây phù hợp với từng chân ruộng và chăm sóc vật nuôi theo cách tiến bộ hơn. Trên những vùng đất vốn bị xem là khó canh tác, gia đình cụ trồng lúa, khoai, lạc, đỗ và bông.
Kết quả được ghi lại trong bài báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên Báo Nhân Dân ngày 7 tháng 8 năm 1952: sản lượng lúa, khoai, bông và đỗ của gia đình Hoàng Hanh đều vượt mức từ 30% đến 50%; đàn trâu, bò, lợn, gà cũng khỏe và phát triển tốt.
Một tài liệu tại Nghệ An còn ghi nhận trong đợt thi đua “Sản xuất lập công, đề cao chiến sĩ”, gia đình cụ tăng năng suất lúa 57%, đỗ tương 40% và bông 60%.
Nhưng điều khiến Hoàng Hanh trở thành một điển hình không chỉ là những con số trên ruộng nhà mình.
Cụ đem kinh nghiệm hướng dẫn cho bà con và tổ chức được khoảng 50 gia đình trong làng cùng làm theo. Việc sản xuất vì thế không dừng lại ở thành công của một hộ mà lan sang nhiều mái nhà khác.
Khi địa phương vận động đắp đập Khe Bò và đập Ồ Ồ để làm thủy lợi, gia đình cụ tham gia tiếp sức cho lực lượng lao động. Theo lời kể của người thân, vợ và con dâu cụ mỗi ngày luộc sáu rổ khoai, chuẩn bị hai thùng nước rồi gánh bộ hơn bảy kilômét để ủng hộ những người đắp đập.
Trong những ngày người dân thiếu lương thực, gia đình Hoàng Hanh mở bồ thóc, bán lúa gạo với giá rẻ. Người đến mua xếp hàng từ cổng làng vào đến nhà. Số lương thực mà cụ vất vả làm ra vì thế không chỉ nuôi gia đình, mà còn giúp nhiều người vượt qua lúc khó khăn.
Cụ đồng thời vận động bà con đóng thuế nông nghiệp đầy đủ. Trong thời chiến, một phần thóc thuế ấy được chuyển thành cơm ăn cho cán bộ, chiến sĩ và nguồn lực duy trì cuộc kháng chiến.
Từ một nông dân nghèo phải làm thuê cuốc mướn, Hoàng Hanh trở thành chiến sĩ thi đua của Nghệ An và Liên khu 4. Tháng 5 năm 1952, cụ có mặt tại Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất.
Đại hội có 154 đại biểu là những người tiêu biểu trong công nghiệp, nông nghiệp, quân đội và lao động trí óc. Từ những đại biểu ấy, bảy người được tuyên dương Anh hùng, gồm bốn Anh hùng Quân đội và ba Anh hùng Lao động.
Hoàng Hanh là một trong ba Anh hùng Lao động đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cụ còn được tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.
Khi được tuyên dương, cụ đã khoảng 65 tuổi.
Sự hiện diện của một người nông dân cao tuổi trong hàng ngũ những anh hùng đầu tiên mang một ý nghĩa đặc biệt. Nó cho thấy trong cuộc kháng chiến toàn dân, chiến công không chỉ được đo bằng số trận đánh. Một người biết biến đất cằn thành mùa màng, biết giúp làng xóm thoát đói và làm ra lương thực nuôi bộ đội cũng đang chiến đấu cho đất nước.
Cụ Hoàng Hanh mất năm 1963. Nhưng trong nhiều năm sau đó, phong trào học tập tấm gương lao động của cụ tiếp tục được phát động.
Trên những thửa ruộng ở Nam Đàn, cụ đã chứng minh một điều tưởng như bình thường: khi Tổ quốc cần, người nông dân có thể làm nên lịch sử bằng chính đôi tay lấm đất của mình.
Cụ không mang đến Đại hội một chiến lợi phẩm.
Cụ mang đến những hạt thóc.
Và trong năm tháng đất nước còn chiến tranh, những hạt thóc ấy cũng quý giá như đạn dược ngoài mặt trận.



