NGƯỜI NỮ ANH HÙNG BÊN DÒNG SÔNG HẬU - ĐỖ THỊ NĂM
Người con gái miệt cù lao xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn chỉ trong thời gian 3 năm, từ tháng 8/1972 đến khi kết thúc Chiến dịch Hồ Chí Minh - tháng 4/1975, đã vận chuyển trót lọt 279 chuyến hàng, đưa trên 22 tấn vũ khí, gồm súng, đạn dược, chưa kể gạo, tài liệu và chuyển thư từ về địa phương. Đó là nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Đỗ Thị Năm (Năm Thắng).
Nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Đỗ Thị Năm (Năm Thắng) là nhân vật trong bài bút ký của tôi để tặng đến toàn thể chị em Phụ nữ nhân kỷ niệm 114 năm Ngày Quốc tế phụ nữ 8/3 năm nay.
Để thực hiện bài viết, ngay trong những ngày đầu tháng 3/2024, tôi tạm rời xa phố thị, nơi đang bày bán hoa tươi, xênh xang áo dài, râm ran lời chúc tụng…để về xã cù lao Lục Sĩ Thành tìm tư liệu về người con gái Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Đỗ Thị Năm. Cái khó là tôi chỉ biết chị Năm Thắng từng sống ở xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn cách thành phố Vĩnh Long khoảng 35 cây số, nhưng những thông tin về tuổi thơ, về cuộc đời binh nghiệp của chị cũng như những thông tin khác như gia đình chị Năm Thắng bây giờ ở đâu, mất khi nào, những kỷ vật còn lại của chị Năm...thì tôi mù tịt. Thường thì nếu đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng, lại là nữ, là người trong lực lượng vũ trang nữa, ít ra cũng có nhiều cuộc hội thảo đặt tên đường, tên trường hay công viên mang tên người Anh hùng ấy, nhưng đằng này không có. Còn tìm trên mạng thì cũng rất ít thông tin, chỉ lác đác vài ba bài viết đăng trên báo, tạp chí (như trên trang Thi đua khen thưởng Trung ương; trên sách Địa chí và Báo Vĩnh Long…). Rất may là trong những ngày đi tìm tư liệu, nhân chứng, tôi gặp được một “kho tư liệu sống” để kể về người nữ Anh hùng của xứ sở Trà Ôn. Đó là anh Út Nhỏ (Lê Văn Út), ở thị trấn Trà Ôn, anh là người cùng thời với chị Năm Thắng. Năm 1965, chị Năm Thắng vào làm giao liên xã thì anh Út Nhỏ là Trung đội trưởng du kích xã Lục Sĩ Thành. Năm 1973, chị Năm Thắng (khi đó công tác ở Đội Vận tải - Hậu Cần Tỉnh đội) được chọn đi báo công tại Đại hội Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh, tổ chức tại ấp Bình Ninh, xã Bình Ninh, huyện Tam Bình lúc đó anh Út Nhỏ cũng được chọn đi dự Đại hội này.
Theo lời kể anh Út Nhỏ, chị Năm Thắng sinh năm 1949, trước khi lấy chồng ở ấp Phú Lợi (nay là xã Phú Thành). Sau khi lấy chồng (ông Phan Văn Thành) về ở ấp Mỹ Thạnh A, xã Lục Sĩ Thành. Chị sinh ra trong một gia đình bần cố nông. Cha Đỗ Văn Mười, mẹ Trần Thị Bảy. Cha mất sớm, chị ở với mẹ và hai em, không có ruộng vườn để làm ăn. Quanh năm phải làm thuê kiếm tiền mua gạo. Đến tháng 4/1965, chị Năm Thắng xin được làm công tác giao liên của xã. Thời điểm này, bộ phận giao liên xã có khoảng 5 người, cả nam và nữ, và do ông Tư Già - Đảng viên lãnh đạo. Hình thức hoạt động chủ yếu bằng ghe xuồng (chèo và có gắn máy đuôi tôm), nhưng những ghe xuồng đó đều được gởi ở nhà dân, dài theo rạch Trường Tiền, nơi có nhiều lùm bụi, có nước lớn ròng, để ghe xuồng dễ dàng vào ra. Rồi sau đó bộ phận giao liên xã phát triển thêm lên 7, lên 10 người, cho nên xã mới xây dựng thành hai Trạm giao liên. Một trạm cất trên khu vườn quản lý của cảnh sát Hai Ngãi (bấy giờ y đã lên làm xã trưởng). Trạm kia đặt ở cù lao Tân Quy, thuộc xã Tích Thiện. Nhiệm vụ chính của lực lượng này là chuyển giao tài liệu, thư từ và nhận hoặc đưa rước các cán bộ từ địa bàn này sang địa bàn khác hoạt động. Thời điểm này giao liên gặp rất nhiều khó khăn. Một số tàu tuần tra của Mỹ thường xuyên tuần tra, kiểm soát trên sông Hậu, neo ghe xuồng của người dân lại để kiểm tra giấy tờ và tịch thu hàng cấm. Việc kiểm tra được tiến hành thận trọng ở giữa dòng sông để tránh hỏa lực của ta từ trên bờ dội xuống. Bởi vì ở Cần Thơ có căn cứ Hải quân, tuần tra ngày và đêm. Cho nên giao liên xã, đi phải tranh thủ, có người gác tàu, nếu không thấy thì khoảng 10 phút mới dọt qua được. Thường là máy PS hoặc Kohler có mã lực và công suất mạnh. Chị Năm Thắng lúc này chưa vào Đảng, nhưng là giao liên nòng cốt, rất giỏi giang.
Nhưng để đưa được của và người đến nơi an toàn không chỉ có ghe xuồng, máy tốt là đủ mà đòi hỏi có những con người mưu trí, dũng cảm, dám làm và sẵn sàng hy sinh! Trên tuyến đường này đã có biết bao nhiêu câu chuyện diệu kỳ được dệt nên bằng những tinh thần đó. Như chuyện chị Tám Thanh, giao liên Lục Sĩ Thành. Chị người ở ấp Phú Sung. Hôm đó tới phiên chị đi thư. Chị đi từ vùng dưới (Trạm Tân Quy) lên vùng trên (đầu cồn đối diện Cần Thơ), vừa tới ng tắt Kinh Xáng cù lao Mây, gặp bọn địch phục kích, nó kêu chị ghé ghe lại mục đích là bắt sống để khai thác. Chị kiên quyết quay mũi ghe hướng ra sông Cái Côn để tẩu thoát nhưng không kịp, bị chúng bắn vãi theo, chị trúng đạn hy sinh. Còn chị Bảy A (Nguyễn Thị A), tuy không phải là đảng viên, nhưng là người giao liên có rất nhiều kinh nghiệm đối phó, vì đã mấy lần bị tàu tuần tra địch bắt ở vàm Cái Côn, vàm Cần Thơ chị đều qua hết mà không lộ công việc của đơn vị. Nhưng vì tình hình khẩn cấp, xã muốn huy động thêm lực lượng du kích để tấn công vào các đồn lớn ở Lục Sĩ Thành. Xã phân công chị lên vùng trên, phía bên kia xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh, nơi có căn cứ, có một bộ phận du kích xã Lục Sĩ Thành đang bám trụ hoạt động ở đó. Xong việc giao thư, chị Bảy A chạy ghe máy Kohler về. Lúc đó khoảng 5 giờ chiều, chị vừa chạy tới phá Mương Điều của cù lao Tân Quy, ngang qua đồn Trường Tiền thì bị bọn lính bắn chị trúng đạn hy sinh…
Đi bí mật đã là một chuyện khó, đi công khai trước mặt địch thì càng khó hơn nhiều. Gắn với những chiến công hiển hách, giao liên còn mang thêm những giai điệu bi hùng của lòng dũng cảm và tình yêu Tổ quốc: Tháng 9/1968, trong một chuyến đi thư, chị Năm Thắng bị bọn giang thuyền bắt được tại vàm Kinh Xáng Ngay, cách Kinh Xáng Xéo khoảng 500 mét. Chúng neo ghe chị lại, kiểm soát giấy tờ và hàng cấm. Do chưa làm được giấy tờ giả, với lại bọn chúng neo ghe quá lâu, sợ bọn chúng nhìn mặt biết mình là giao liên, thừa cơ hội ghe xuồng đông, chị lén mở dây mũi cho ghe trôi xuôi dòng nước. Tuy mở được dây mũi, nhưng chị ở trên ghe không thể giựt máy chạy được. Đúng lúc đó địch lại phát hiện, bắt chị giam ở Khám lớn Vĩnh Long. Nhưng dù bị địch tra tấn thế nào chị cũng không khai báo. Và trong khi chị bị bắt, đã có mang thai và phải sinh con trong tù. Hơn một năm sau, đến tháng 10/1969, không khai thác được gì chúng mới thả chị ra. Do chị có con nhỏ, phần sức khỏe yếu, chưa tiếp tục thoát ly được, nên phải ở lại gia đình, nuôi mẹ và nuôi con. Còn chồng chị, ông Phan Văn Thành đang công tác xã đội phó. Năm 1970, chồng chị hy sinh. Thời điểm này, chị Năm Thắng ra tù nhưng không dám về nhà chồng (vì gần đồn Gò Dầu), cũng không dám về nhà mẹ ruột ở ấp Phú Lợi (vì gần đồn Trường Tiền), sợ bọn lính tới lui làm khó làm dễ. Cho nên chị mới mượn ghe xuồng của dân rồi bồng bế đứa con nhỏ sanh trong tù, xuống ghe sống đời sông nước. Trước tình hình khó khăn vậy, anh em ở xã mới động viên chị qua bên Trạm Y tế ở Tân Quy sống với anh em, cạnh đó cũng có Trạm Dân y của huyện. Thì chị qua ở đó. Khoảng chừng hai tháng sau, các đơn vị bộ đội của tỉnh về đóng quân. Ban Hậu cần Tỉnh đội mới xin Chi bộ xã cho chị về tỉnh công tác, đồng chí Bí thư Chi bộ là Nguyễn Văn Dũng, thường gọi Tư Dũng, chấp thuận cho đi về trên và chị được phân công làm Y tá của Đội Vận tải - Ban Hậu cần Tỉnh đội Vĩnh Long. Do yêu cầu cấp thiết của nhiệm vụ chiến đấu đánh giặc Bình định, tháng 8/1972 chị được chuyển sang làm nhiệm vụ vận tải vũ khí bán công khai trên đường sông (thuộc đơn vị Vận tải - Hậu cần Tỉnh đội Vĩnh Long) và liên tục đến khi kết thúc Chiến dịch Hồ Chí Minh. Kết quả chỉ trong thời gian 3 năm, từ tháng 8/1972 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng tháng 4/1975, chị Năm Thắng đã vận chuyển trót lọt 279 chuyến hàng, trong đó có 79 chuyến vận chuyển từ Quân khu về tỉnh qua địa phận tỉnh Kiến Phong (nay là tỉnh Đồng Tháp); trên 200 chuyến trong tỉnh và liên tỉnh; đưa trên 22 tấn vũ khí, gồm súng, đạn dược, chưa kể gạo, tài liệu và chuyển thư từ về các địa phương trong tỉnh.
Để làm nhiệm vụ vận chuyển, đơn vị Hậu cần Tỉnh đội giao cho chị phụ trách một chiếc ghe gỗ trọng tải khoảng 2 tấn, không mui; có gắn máy đuôi tôm. Trong vận chuyển, có chuyến sử dụng máy Kohler, có chuyến sử dụng máy PS có mã lực và động cơ cỡ lớn. Cùng đi có một chị giao liên có tuổi hơn chị Năm Thắng là chị Minh, ở cùng ấp. Và, để dễ bề che mắt địch, chị xin đơn vị cho chị đem theo đứa con nhỏ 4 tuổi (Phan Văn Thành), để đóng giả như một gia đình đi buôn bán trên sông. Trên các chuyến vận tải của chị, thường là những nơi địch đóng nhiều đồn bót, nhiều trạm gác, giang thuyền và có những chiếc tàu tuần tra kiểm soát trên sông, nhứt là những lúc lực lượng cách mạng hoạt động mạnh, thì địch càng tăng cường kiểm soát gắt gao hơn. Mặt khác, đang đi trên sông nước lại gặp nhiều mưa to gió lớn mà chỉ có hai chị em gái với đứa con nhỏ, thì có nhiều khó khăn gian khổ và nguy hiểm. Nhưng với chị, thì chị luôn tìm mọi cách để vượt qua sự nguy hiểm đó để đưa hàng về tới đích an toàn, kịp thời phục vụ cho các đơn vị chiến đấu là thành công. Đối với chị, địch không chỉ “đánh, bắt, giết” mà chúng còn giở nhiều trò ve vãn, chọc ghẹo nhưng thường là chúng hay làm tiền. Có lần chúng kêu ghe chị ghé lại và nói: “Có người nói là ghe này chở vũ khí cho Việt Cộng”. Chúng xuống xét, chị thản nhiên trả lời: “Tụi em nghèo mướn ghe máy đi buôn bán, mấy anh không tin xuống xét, chớ tụi em là con gái mà đâu dám chở vũ khí, vũ khiết gì”. Quanh co, chúng trêu cợt chị một hồi rồi xin chị một số đồ ăn rồi cho ghe đi. Nguy hiểm nhất, trên đường sông Trà Ôn, là địa phương quen biết, lại có nhiều tên chiêu hồi muốn lập công cho địch, chị phải đề phòng, cảnh giác. Có lần chị vừa ngang qua đó, chúng kêu ghe ghé lại, sợ bị lộ, hàng không kịp về phục vụ chiến đấu, nên chị kéo ga máy vọt qua, địch dùng súng đại liên bắn theo dữ dội. Chị nói với chị cùng đi, chẳng thà chết chớ không ghé. Lần đó, chị đưa hàng về đến nơi an toàn và kịp thời phục vụ cho những trận đánh lớn. Có lần không biết du kích và địch đụng độ nhau, chị vô tình cho ghe chạy vào vùng chiến địa, hai bên nổ súng ác liệt, chị vẫn bình tĩnh, địch kêu ghe ghé lại, kêu chị lên bờ hăm dọa, nói chị đi liên lạc cho Việt cộng. Chị thản nhiên trả lời: “Vì tôi nghèo đi làm ăn, chớ tôi đâu có biết gì đâu, thử hỏi mình tôi là da thịt chớ có phải sắt thép gì đâu mà không sợ chết ?”. Nghe chị nói có lý, chúng không hỏi nữa mà kêu chị mau xuống ghe qua bên kia sông chở tên lính chết về bên nầy. Chị trả lời: “Các ông là lính, lại có súng nữa mà không dám qua, còn tụi tôi là dân, có con nít làm sao dám đi”… Giằng co khoảng 20 phút, các anh du kích nổ súng, bọn chúng bỏ chạy, thừa cơ hội chị vọt ghe máy chạy luôn.
Đặc biệt khi quân nhu chuyển hướng, suốt năm 1973 phải đi nhận trên Kiến Phong (vùng Đồng Tháp Mười), là nơi từ nhỏ tới giờ chị chưa hề biết, nhưng chị vẫn kiên quyết, hăng say, tích cực dù gian lao, miễn làm sao hoàn thành nhiệm vụ trên giao, để kịp phục vụ bộ đội chiến đấu, giết nhiều tên giặc là tôi phấn khởi. Vì lúc bấy giờ địch có âm mưu phá hoại Hiệp định Paris. Lần đó, chiếc ghe “chở xá” (tức là dùng ghe không phải hai đáy), lườn sâu, lớp đáy dưới chở đạn, lớp trên chở chuối nguyên buồng, đã đi đến kinh Dương Văn Dương để ra Hồng Ngự, chẳng may lạc ngã rẽ, lại ghe nặng quá nên không thể tự qua khúc kinh cạn. Trong lúc hai chị đang loay hoay tìm cách kéo, đẩy ghe qua khúc cạn thì thấy bọn lính ngụy đi càn quét về ngang. Biết không thể tránh nên chị Năm Thắng nhanh trí gọi: “Mấy em ơi! Trời sắp tối rồi, mấy em ráng giúp kéo chiếc ghe qua khúc kinh cạn này giùm, chị cảm ơn. Trên ghe có chuối chín, bánh tét, bánh dừa, mấy em lấy ăn rồi tiếp chị nghen!”. Bọn lính đang đói ráp lại kéo chiếc ghe, nửa chừng nặng quá dừng lại hỏi: “Sao chiếc ghe này dài, bầu dều của lườn kỳ quá vậy chị? Hèn chi nặng thấy mẹ!”. Chị Năm Thắng nghe tụi lính than có vẻ tình nghi, chị cũng lo lắng, nhưng chị bình tĩnh giải thích: “Tụi em ơi, chiếc ghe của chị cũ nên chị đắp thêm xi-măng. Thợ nó làm quá dày nên nặng vậy đó”. Qua được khúc kinh cạn vùng Đồng Tháp Mười, chị Năm Thắng và chị Minh cùng đi thở phào nhẹ nhõm.
Vào năm 1973 (không nhớ tháng) tại Đại hội Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh, tổ chức tại ấp Bình Ninh, xã Bình Ninh, huyện Tam Bình, ở đơn vị Trà Ôn có hai đại biểu, anh Út Nhỏ và Nguyễn Văn Ngọc. Anh Ngọc tuy người Trà Ôn nhưng thuộc Tiểu đoàn 2 của tỉnh. Anh Út Nhỏ kể: Trong Đại hội đó, chỉ có 2 báo cáo điển hình. Đó là báo công của anh Đoàn Văn Thắng (Tỉnh đội) trước, rồi sau đó tới báo công của chị Năm Thắng (Hậu cần Tỉnh đội). Trong bản báo công của anh Đoàn Văn Thắng có một thành tích nổi trội là trong trường hợp đánh phòng ngự nhưng phát hiện đường dây điện bị đứt, dù đạn pháo địch bắn dữ dội, anh kiên quyết bò lên nối dây điện 13 lần giúp liên lạc thông suốt, phục vụ chỉ huy truyền đạt mệnh lệnh kịp thời (Sau đó đồng chí Đoàn Văn Thắng tiếp tục lập thêm nhiều thành tích trong công tác, chiến đấu, sau ngày giải phóng tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế giúp bạn tại Campuchia, được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 1978).
Còn chị Đỗ Thị Năm (Năm Thắng) thì báo công về thành tích tải đạn, chuyển trót lọt 279 chuyến hàng, đưa trên 22 tấn vũ khí, gồm súng, đạn dược, chưa kể gạo, tài liệu và chuyển thư từ về địa phương. Tại Đại hội, sau khi nghe báo công, các đồng chí Mười Quẹo (Tỉnh đội phó, phụ trách chính trị), các đồng chí Mười Sa, Tám Thạnh... phân tích đánh giá, nếu lấy con số vận chuyển trót lọt 22 tấn vũ khí đó, mà giao cho cả Tiểu đoàn đi làm thì trong thời gian năm, bảy tháng chưa chắc Tiểu đoàn vận chuyển thành công. Bởi vì đường vận chuyển phải qua các ấp chiến lược, mà đồ đạc nặng, không thể mang vác nổi. Khi đó, chị Năm Thắng chở bằng ghe tam bản, rồi cải trang rau củ quả, làm như đi bán chợ này đến chợ khác. Cũng có các đồng chí lãnh đạo Tỉnh đội hỏi: “Trong quá trình vận chuyển vũ khí vậy, đồng chí có khó khăn gì hông?”. Chị Năm Thắng có nói: “Có khó khăn là lần đó đi vô vùng Trà Ôn, từ bên hướng Cần Thơ tải về, thì phải vô vàm Trà Ôn, qua chợ Ba Phố đi ngay vô trong Bình Ninh. Khi vô trong đó (Bình Ninh) thì không may gặp tên Cảnh sát Nguyễn Văn Tải, tên này ở ấp Mỹ Thạnh B - cùng xã, nó nói với đồng bọn:“Thôi, để tao xuống xuồng này tao lục xét”, nó xuống lục sơ sơ rồi đi lên. Chị nói bữa đó nếu nó phát hiện, là chị phải kích nổ tiêu hủy hết ghe súng đạn, mẹ con, chị em gì cũng hy sinh luôn. Đó là lời chị Năm Thắng nói.
Nhận xét và đề nghị trong bảng thành tích của đồng chí Đỗ Thị Năm, ngày 26/10/1976, thay mặt Thường vụ Tỉnh ủy Cửu Long ông Hồ Nam - Bí thư Tỉnh ủy và Trung tá Nguyễn Trường Thọ thay mặt Đảng ủy - Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Cửu Long đã nhận xét và đề nghị:“Đồng chí Đỗ Thị Năm (Năm Thắng) đã nêu cao tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường, nhiều lần mạo hiểm, đã bình tĩnh, linh hoạt xử trí kịp thời, đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Một lòng trung kiên, luôn đặt lợi ích riêng của đời mình vào đại cuộc, đồng chí đã được đồng đội mến yêu. Năm 1972 được công nhận chiến sĩ Thành đồng Quyết thắng và được tặng 1 huân chương Chiến công Giải phóng hạng 3.
Đề nghị trên xét và tuyên dương Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho cá nhân đồng chí Đỗ Thị Năm.”
Với công lao cống hiến cho Đảng và Nhà nước cũng như quân đội, ngày 06/11/1978, đồng chí Đỗ Thị Năm (Năm Thắng), cấp bậc Thượng sĩ, được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Sau gần trọn một đời cống hiến cho cách mạng, bà về nghỉ hưu ở ấp Mỹ Thạnh A, xã Lục Sĩ Thành trong ngôi nhà cấp 4 do Đài Truyền hình Vĩnh Long và đoàn thể xã góp phần xây dựng nên. Sống thanh bạch, giản dị, khiêm tốn và thật sự trong sạch trong sự yêu mến và ngưỡng mộ của bạn bè, mọi người nơi bà cư trú. Bà Đỗ Thị Năm mất ngày 13/6/2022 tại nơi cư trú, hưởng thọ 74 tuổi. Hiện được người con trai duy nhất sinh ra trong tù (Khám lớn Vĩnh Long) là anh Phan Văn Thật thờ cúng. Trong lịch sử Hậu cần Tỉnh đội Vĩnh Long, có một nữ chiến sĩ “chân trần chí thép” đi vận chuyển súng đạn, đã hy sinh chồng và hạnh phúc riêng mình, dành cả tuổi thanh xuân năm này qua năm khác, âm thầm làm nhiệm vụ cực kỳ nguy hiểm trong lòng địch phục vụ cách mạng. Và chị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao với đôi vai, bàn chân, bàn tay của một người phụ nữ lao động bình thường!
Nguồn: vinhlong.gov.vn



