Bài viết

Người nữ chiến sĩ biệt động thị xã Rạch Giá

An Giang27/04/2026Trần Thị Ngọc Huyền (XÃ ĐOÀN ĐỊNH MỸ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiều ngày 30/4/1975, bà con khu chợ Tắc Ráng và chị em tiểu thương ngỡ ngàng "chị Sáu Hạnh bán cá là người của cách mạng kìa. Chị Sáu là Việt cộng, mình từng buôn bán chung mà không biết…”.

Đó là tiếng gọi bật ra từ lồng ngực, từ trái tim cùng những dòng nước mắt vui, xúc động của một nữ chiến sĩ biệt động thị xã Rạch Giá, trong thời khắc kết thúc chiến tranh, chiều ngày 30/4/1975. Tiếng gọi ấy, khiến bà con xung quanh khu chợ Tắc Ráng và chị em tiểu thương, chị em mua gánh bán bưng gần đó đều ngỡ ngàng, kêu lên “Chị Sáu Hạnh bán cá là người của cách mạng kìa. Chị Sáu Hạnh là Việt cộng, mình từng buôn bán chung mà không biết…”.

Sáu Hạnh là bí danh của chị Lại Thị Hải (Chín Hải) và cũng là tên thường dùng trong lúc tạo hợp pháp để hoạt động trong nội ô thị xã Rạch Giá trước ngày 30/4/1975. Tháng 1/1969, chị Chín Hải vừa sinh con trai đầu lòng được 6 tháng 21 ngày, thì chồng chị, anh Nguyễn Tấn Bình, Huyện đội phó An Biên hy sinh. Tin sét đánh này đến với chị Chín Hải, khi chị đang tạo hợp pháp hoạt động tại xã Bình an, huyện Châu Thành B.

Gác lại nỗi đau riêng, chị chấp hành sự phân công của tổ chức để ra thị xã Rạch Giá nhận nhiệm vụ mới. Chị Chín nhớ lại: “Tôi cứ nghĩ mình ra thị xã không gặp được ai, không biết xây dựng cơ sở và bám trong dân tạo hợp pháp như thế nào? Nhưng khi ra tới nơi, nhìn đâu cũng thấy có đồng chí mình làm nhiều nghề trong xóm lao động, dân nghèo để hoạt động. Tôi mừng mà chảy nước mắt. Ra Thị xã, tôi qua phường Vĩnh Hiệp, tìm nhà người quen là dì dượng Ba Soi để ở tạm. Tôi nói với dì dượng: “ Chồng con chết, con sống khổ quá nên ra chợ buôn bán kiếm sống”. Dì dượng sẵn sàng cưu mang.

Nhưng tôi mới 23 tuổi, “gái một con”, người ta nghe chồng chết, cứ muốn làm mai người này, người nọ, trong đó có cả lính cảnh sát Ngụy, tôi luôn phải khéo léo từ chối, để vừa không mất lòng bà con tốt bụng, vừa không bị người khác nghi ngờ mình là Việt cộng. Tôi dò la tìm được một gia đình tốt là Má Bảy, má của anh Năm Đoàn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Tây Đô, tỉnh Cần Thơ, hy sinh. Má lánh tạm qua Rạch Giá sống.

Tìm được cơ sở tốt tôi mừng quá. Má Bảy cũng rất thương tôi, xem nhau như hai mẹ con. Má cho tôi ở luôn trong nhà. Có được chỗ nơi ở ổn định và tin cậy, tôi tìm cách báo tin cho tổ chức. Người tôi gặp đầu tiên là chị Bảy Ủ, là đảng viên, hoạt động hợp pháp. Chị Bảy là người địa phương, nên việc chị tìm tôi từ cứ mới ra thị xã không khó. Chị mang theo hai bộ đồ, chai nước mắm cho tôi, lúc này tôi lấy tên Sáu Hạnh để hoạt động. Gặp được tổ chức giữa lòng địch đã mừng rồi, cộng thêm nghĩa tình và sự chăm lo, chu đáo của chị Bảy Ủ, tôi rất cảm động”...

Để tiện cho hoạt động, chị Chín Hải học thêm nghề may và bán bắp nấu, khoai lang. Bán mấy thứ này, phải bưng dài dài đi chợ từ Cầu Quay (An Hòa), đến Rạch Sỏi… “bán được hay không không quan trọng, miễn là có thứ để bưng đi bán để dễ gặp cơ sở, gặp tổ chức là được”. Nhờ nghề buôn bán này mà chị Chín Hải và nhiều chị em khác qua mắt được giặc, xây dựng được lực lượng, vận động được quần chúng là cơ sở trong lòng địch.

Từ một cơ sở, chị Chín Hải gặp thêm cô Lâm Thị Minh (Ba Quân). Cô ba Quân lúc đó là thị ủy viên Rạch Giá, Trưởng Ban Phụ vận thị xã. Một lần, chị Chín Hải bưng khoai, bắp đi bán, nhìn thấy cô ba Quân đang bưng một xề chanh, ớt bán phía nhà lồng chợ, bị mấy tên cảnh sát chợ rượt đuổi, hất đổ hết xề chanh ớt. Chị Chín Hải đứng từ xa nhìn lại, thấy cảnh ấy, chị cố kềm lòng mà vẫn cứ bật khóc.

Chị Chín Hải kể: “Về nguyên tắc tổ chức, không được yếu mềm như vậy, nhưng tôi nghĩ chị là thị ủy viên, vì nhiệm vụ cách mạng, chị phải đối mặt với những khó khăn, hiểm nguy như thế, tôi càng thương, kính trọng chị và nhìn chị là một tấm gương để học tập”.

Năm 1973, chị Chín Hải được cử đi học lớp đặc công và biệt động, do Quân khu 9 mở tại vùng căn cứ U Minh Thượng (Ba Đình, Vĩnh Thuận), thời gian hơn 30 ngày. Xong lớp học, trở về thị xã, chị được phân công phụ trách tổ biệt động, trực thuộc biên chế của Đội Biệt động thị xã Rạch Giá. Tổ có 4 người. Vẫn làm công việc buôn bán chanh, ớt, cá, vẫn tên Sáu Hạnh. Nhiệm vụ của chị Chín Hải là phải bưng các thứ này qua bán ở khu vực chiêu hồi (phía sau Tỉnh đội ngày nay) để theo dõi đường đi nước bước của giặc ở khu vực này, cả của bọn chiêu hồi, để tìm cách lấy súng, lựu đạn của giặc chuyển ra cứ cho Thị đội.

Chị Chín Hải vô khu này 3 lần và lấy được hai trái lựu đạn, đưa cho đồng chí trong tổ biệt động ám sát một tên nữ chiêu hồi, khai báo và chỉ điểm. Giết y thị để bảo vệ cơ sở. Lần khác, chuẩn bị ám sát tên trưởng ấp ác ôn. Khi điều tra kỹ qui luật hoạt động của y, định hành động, nhưng giờ cuối, tổ quyết định chuyển phương án tiếp cận, giáo dục y, nếu y chống cự, ngoan cố, thì xử. Tên này tuy ác ôn, nhưng khi được giáo dục, cũng biết phục thiện nên hắn được tha chết.

Chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh tháng 4 năm 1975, tấn công vào đầu não địch tại thị xã Rạch Giá, Tổ Biệt động được phân công tiếp cận dinh Tỉnh trưởng, nhưng không vô được. Cuối cùng Vương Văn Trỗ, Tỉnh trưởng Ngụy quyền tỉnh Kiên Giang cũng đầu hàng quân giải phóng, hai bên và nhân dân không bị thương vong ở thời khắc kết thúc chiến tranh, ngày 30-4-1975.

Khi Vương Văn Trỗ đầu hàng, cơ sở của ta lấy võ máy chạy vô kinh xáng Đòn Dông rước 3 nữ đồng chí đang may cờ Mặt trận ra thị xã, Trong thời khắc ấy, chị Lại Thị Hải hét to lên: “Bà con ơi, Vương Văn Trỗ đầu hàng rồi! Giải phóng rồi!”. Chị định la thật lớn, nhưng sao cổ họng như nghẹn lại. - Chị nói.

Sáng sớm ngày 1-5-1975, theo yêu cầu của ta, phía Ngụy cho xe Jeep đến Tắc Ráng rước mấy chị em đến tập trung tại sân bay Lạc Hồng. Bà con ở xóm lao động, mấy chị em bạn hàng nhìn thấy lực lượng cách mạng và “Chị Sáu Hạnh bán cá”, kêu lên: “Mấy anh chị là cách mạng kìa! Chị Sáu Hạnh là cách mạng kìa!”. Còn các gia đình nuôi chứa chị Chín Hải và các đồng chí khác cũng chạy đến mừng không thể tả hết.

46 năm trôi qua, nhắc lại giây phút này, chị Chín Hải vẫn còn xúc động. Chị nhớ lại: “Giây phút đó, tôi nhớ đến con tôi, tôi nhớ đến anh Bình, nước mắt tôi chảy không thể nào cầm được. Lúc ấy trên đài hát liên tục bài hát có câu “Vui sao nước mắt lại trào”, rất đúng với tâm trạng người dân của một đất nước vừa trải qua hơn 20 năm chiến tranh và nỗi đau chia cắt đất nước. Đến mấy ngày sau, má tôi ẵm bé Cửu từ Đông Yên ra thăm tôi. Hồi tôi gởi nó mới 15 tháng. Giờ đây con tôi đã 7 tuổi. Tôi ôm con vào lòng mà cổ nghẹn ứ không thốt được nên lời. Nhìn cảnh mẹ con tôi ôm nhau, má tôi cũng khóc. Con tôi ôm ghì cổ tôi, tôi nói với con: “Mẹ không chết. Mẹ không đi bỏ con nữa đâu”. Tôi nói “Mẹ không chết”, là vì khi ra thành, mỗi ngày có quá nhiều bất trắc xảy ra, tôi cứ nghĩ một ngày nào đó, mình sẽ hy sinh.

Kết thúc chiến tranh, tôi gặp lại con tôi và ba má tôi, còn chồng tôi và người em ruột của tôi là Lại Trường Long, ở Tiểu đoàn 207, hy sinh năm 1972, khi tròn 19 tuổi. Mọi nỗi đau rồi cũng nguôi ngoai. Sau giải phóng, tôi làm Phường đội trưởng Phường Vĩnh Thanh Vân (lúc đó phụ trách luôn công an), vì Đội biệt động trực thuộc thị đội Rạch Giá. Tôi kết hôn với anh Võ Tấn Đại (Chín Đại), cán bộ hồi kết, nguyên Phó Trưởng Ban Tổ chức chính quyền tỉnh Kiên Giang. Anh cũng có gia đình, có một con gái, vợ anh mất.

Chúng tôi vừa có con chung vừa có con riêng là 5 đứa. Các con chúng tôi biết yêu thương nhau và hiếu thảo với cha mẹ, biết sống chia sẻ và làm từ thiện. Trải qua những mất mát hy sinh, giờ đây, ở tuổi già, khi đã hoàn thành nhiệm vụ của Đảng giao, chúng tôi sống an nhàn bên các con, dìu dắt các con trưởng thành và tiếp tục cống hiến cho xã hội và đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn