Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

“NGƯỜI NỮ CHIẾN SĨ KIÊN CƯỜNG CỦA QUÊ HƯƠNG QUẢNG NAM”

Đà Nẵng28/10/2026xã Đức Phú (Đoàn xã Đức Phú)5 lượt xem0 lượt chia sẻ
“NGƯỜI NỮ CHIẾN SĨ KIÊN CƯỜNG CỦA QUÊ HƯƠNG QUẢNG NAM”

Bà Trương Thị Mùa – bộ đội, chiến sĩ giải phóng, người đã dành tuổi thanh xuân của mình trên chiến trường khói lửa, vượt qua biết bao gian khổ, hiểm nguy để góp phần vào thắng lợi của dân tộc. Hôm nay, bà chia sẻ với chúng tôi những câu chuyện chân thực về một thời hoa lửa, về ý chí kiên cường và tinh thần bất khuất của những người lính giải phóng.

Người phụ nữ ấy sinh năm 1942, bà Trương Thị Mùa bà sinh ra và lớn lên tại xã Tam Đàn, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Tuổi thơ của bà gắn liền với những năm tháng quê hương chìm trong khói lửa chiến tranh. Chứng kiến cảnh đất nước bị chia cắt, nhân dân chịu nhiều đau thương, mất mát, bà sớm nuôi dưỡng trong mình lòng yêu nước và khát vọng được góp sức giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.

Năm 18 tuổi, mặc dù gia đình không đồng ý, ủng hộ bà đi theo con đường cách mạng vì sợ con gái phải đối mặt với hiểm nguy nơi chiến trường, bà vẫn quyết tâm rời quê hương lên đường tham gia cách mạng. Giai đoạn 1964–1965, bà tham gia lực lượng du kích xã. Đến năm 1966, bà tình nguyện xung phong gia nhập bộ đội tại Quế Sơn, chính thức trở thành chiến sĩ giải phóng. Kể từ ngày ấy, bà bước vào cuộc đời người lính, bền bỉ chiến đấu và không một lần trở về thăm gia đình cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng.

Một ký ức khiến bà day dứt suốt cuộc đời là sự ra đi của người cha. Năm 1968, khi bà vẫn đang làm nhiệm vụ nơi chiến trường, cha bà qua đời tại quê nhà. Vì chiến tranh ác liệt, đường sá bị chia cắt và nhiệm vụ không cho phép, bà không thể trở về nhìn mặt cha lần cuối hay chịu tang như một người con. Đó là nỗi đau âm thầm của bà trong suốt những năm qua. Bà chấp nhận gác lại tình riêng để tiếp tục cùng đồng đội hoàn thành nhiệm vụ, bởi bà tin rằng sự hy sinh của mỗi người sẽ góp phần mang lại hòa bình cho biết bao gia đình khác.

Nhắc đến những năm tháng chiến đấu, ký ức ám ảnh nhất với bà là trận càn của địch tại Quế Sơn vào năm 1969. Khi địch bất ngờ đổ quân từ trên núi xuống, đơn vị phải chạy trong hỗn loạn và rớt xuống hầm. Dưới hầm có năm đồng chí trong đó có bà. Hầm có hai đầu ở giữa không có ngốc ngách, cùng lúc đó địch ném vào ba quả lựu đạn mỗi đầu mỗi quả hai bên.

hầm. Sau những tiếng nổ dữ dội, bốn đồng đội đã anh dũng hy sinh. Chỉ còn một mình bà sống sót, nằm bất động trên thi thể đồng đội từ khoảng 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều, chờ quân địch rút đi mới có thể bò lên khỏi hầm. Khi bò lên khỏi hầm, trước mắt bà là khung cảnh hoang tàn. Doanh trại đã bị quân địch đốt cháy, khói lửa vẫn còn nghi ngút. Giữa vòng vây của địch, bà không còn lựa chọn nào khác ngoài việc giữ bình tĩnh, hòa lẫn vào đội hình của chúng để tìm cơ hội thoát thân. Chính sự mạnh mẽ ấy đã giúp bà thoát khỏi được vòng vây của địch, bởi quân địch sợ thiếu lực lượng không dám nổ súng vì sợ bắn nhầm đồng đội. Thoát khỏi vòng vây, bà tiếp tục băng qua những cánh đồng, men theo các triền đồi để tìm đường về căn cứ. Đúng lúc ấy, máy bay địch tiếp tục dội bom dữ dội, những quả bom cày nát núi rừng Quế Sơn. Đất đá tung mù trời, cây cối đổ ngổn ngang khiến bà không còn nhận ra lối đi. Khi bà lên đến đỉnh núi thì không thể đi được nữa vì trời đã tối và không có một ai vì kiệt sức và thương tích, bà ngủ lại nơi hoang sơ trên đỉnh núi đó.

Sáng hôm sau, đơn vị quay trở lại chiến trường với hy vọng mong manh tìm kiếm những người còn sống sót. Khi nghe tiếng đồng đội gọi, bà cố gắng cất tiếng đáp lại. Chính tiếng gọi ấy đã giúp đồng đội tìm thấy bà và đưa bà trở về. Trong trận chiến ấy, bà bị nhiều mảnh đạn găm vào chân và vùng hông. Một số mảnh đạn được lấy ra, nhưng mảnh đạn ở mắt cá chân vẫn còn nằm trong cơ thể đến tận hôm nay, khiến mỗi lần trái gió trở trời hay đi lại nhiều, bà vẫn phải chịu những cơn đau nhức và tê buốt. Đó là vết tích chiến tranh còn theo bà suốt cuộc đời.

Không chỉ đối mặt với bom đạn, những năm tháng chiến đấu còn là cuộc chiến với cái đói và sự thiếu thốn. Theo lời bà kể, có những thời điểm đơn vị không có gạo, các chiến sĩ phải cầm cự bằng khoai rừng, rau cải tàu bay và củ chuối. Trong trận đánh tại Phước Tân (Tiên Phước), bộ đội bám trụ giữa cánh đồng suốt bảy ngày bảy đêm để chiến đấu với địch đánh với 12 chiếc xe tăng.

Bà cùng đồng đội vào rừng đào củ chuối chát, gọt sạch phần chát, thái nhỏ rồi gánh ra tiền tuyến để nuôi bộ đội. Suốt nhiều ngày liền, những củ chuối rừng trở thành nguồn lương thực giúp các chiến sĩ duy trì sức lực, tiếp tục chiến đấu bảo vệ trận địa.

Là người có vóc dáng nhỏ bé, khi mới nhập ngũ bà chỉ nặng khoảng 40 kg, nhưng bà vẫn gùi trên vai những an gạo vào Quế Sơn, bà còn gánh trên vai quả B12 nặng hàng chục kg băng rừng vượt suối trong đêm. Bà xúc động kể lại rằng: "Mỗi lần lên đường đều không biết mình có thể trở về hay không. Đi thì cứ đi, còn ngày trở về không ai dám chắc." Chính tinh thần ấy đã trở thành sức mạnh giúp những người lính vượt qua mọi hiểm nguy của chiến tranh.

Điều bà luôn trân quý nhất chính là tình đồng chí, đồng đội. Trong ký ức của bà, có một người bác sĩ từ miền Bắc vào chiến trường chăm sóc thương binh. Với bà, ông như người cha thứ hai. Những ngày mưa, ông xuống đồng bắt cua đồng, giã lấy nước bồi dưỡng cho những chiến sĩ bị còi xương, tận tình chăm sóc từng người. Sự yêu thương và hy sinh thầm lặng ấy đã tiếp thêm nghị lực để bà cùng đồng đội vượt qua những tháng ngày gian khó.

Chiến tranh đầy gian khổ nhưng không thiếu những khoảnh khắc lạc quan. Sau mỗi trận chiến, khi trở về căn cứ, các chiến sĩ lại quây quần bên nhau, tổ chức những trận bóng chuyền, bóng đá để động viên tinh thần. Những tiếng cười giữa núi rừng, giữa bom đạn đã trở thành ký ức đẹp, tiếp thêm niềm tin và sức mạnh cho họ tiếp tục chiến đấu.

Sau khi bị thương vào năm 1969, bà vẫn tiếp tục công tác cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng. Đến năm 1975, bà trở về công tác tại Nông trường Quế Sơn và sau đó là về Nông trường Đức Phú, Quảng Nam công tác và xây dựng. Khi nhắc đến ngày non sông thống nhất, ánh mắt bà vẫn ánh lên niềm hạnh phúc và tự hào vì đã góp một phần nhỏ bé vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc.

Điều khiến nhiều người xúc động nhất là khi được hỏi nếu được quay trở lại quá khứ, bà có tiếp tục lựa chọn con đường cách mạng hay không, bà không ngần ngại trả lời: “Nếu được chọn lại, bà vẫn sẽ lên đường như ngày ấy, ngay cả bây giờ bà cũng ao ước bà quay lại cái độ tuổi đó”. Không chỉ bà muốn quay lại thời đó mà bà còn muốn con cháu bà tham gia kháng chiến để bảo vệ Tổ quốc. Đó không chỉ là niềm tự hào của một người lính mà còn là minh chứng cho lòng yêu nước và niềm tin son sắt vào lý tưởng cách mạng.

Đối với thanh niên thế hệ trẻ của đất nước bà có đôi lời gởi gắm: “Bà mong muốn rằng các cháu cố gắng học hỏi thế hệ đi trước để xây dựng đất nước phát triển, mong muốn giáo dục trách nhiệm cho các cháu trưởng thành đừng để lâm vào tệ nạn xã hội, các cháu thanh niên là đàn anh đàn chị đi trước phải cố gắng hiểu để dạy dỗ cho các em về sau. Để cùng nhau chung tay xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước ngày càng vững mạnh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn