Bài viết

Người nữ đảng viên xuất sắc Mai Ngọc Thuyết

Dòng họ Mai ở Thạch Giản (Thanh Hóa) ra Thăng Long từ thế kỷ XVIII, nổi tiếng với Thám hoa Mai Anh Tuấn, đánh giặc và hy sinh ở vùng núi Cao - Lạng. Nối nghiệp nhà, Mai Ngọc Thuyết (tức Mai Vũ Trang) sớm tham gia hoạt động cách mạng và trở thành một trong những nữ đảng viên đầu tiên của Đảng từ năm 1929, khi Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập.

Phú Thọ07/07/2026CLB trẻ (CLB trẻ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Từ ngôi nhà số 8 Ô Chợ Dừa, chim bằng sải cánh bay xa

Chuyện kể lại rằng: một đêm đầu xuân 1908, trên bè tre nứa, góc đầm rau muống trong ngõ Thịnh Hào (nay thuộc phường Hàng Bột, quận Đống Đa, Hà Nội), bà cất tiếng khóc chào đời, nên có tên mụ là Đầm. Cha bà, cụ Mai Văn Giáo đã từng theo Kỳ Đồng lên miền Thượng du chống Pháp, rất yêu con, đã chọn cái tên đẹp - Mai Ngọc Thuyết.

Bà Mai Ngọc Thuyết (Mai Vũ Trang).

Bố mất sớm khi bà chưa đầy 5 tháng tuổi, rồi mẹ mất khi bà 16 tuổi, hai anh em Mai Lập Đôn, Mai Ngọc Thuyết đùm bọc nhau ở nhà số 8 Ô Chợ Dừa. Đây là địa điểm do ông Đôn thuê để vợ chồng ông và em gái vừa ở vừa làm địa điểm liên lạc thuận tiện của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Theo sự chỉ bảo của anh trai, bà Mai Ngọc Thuyết bỏ việc thêu ren, ở nhà bán diêm, thuốc lào, chè nước…để canh bọn địch. Cụ Tôn Quang Phiệt và các ông Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Tạo (tức Tạo cuội) ra Hà Nội hoạt động, phát triển tổ chức Tân Việt cũng đến đây hội họp với các đồng chí Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Ông Đôn dặn em gái cách trả lời bọn “đánh hơi” cộng sản: nếu có ai hỏi, thì nói là anh tôi nhận dịch văn tự thuê hoặc đang đánh tổ tôm. Có khi cuộc họp kéo dài đến 1 giờ sáng, bà vẫn kiên nhẫn canh gác và ao ước được tham gia tổ chức. Rồi bà làm thơ tuyên truyền và giấu anh trai, tự mua mực về in truyền đơn. Anh trai phát hiện ra, la rầy bà, nhưng các đồng chí biết chuyện, nói hùn vào, ông Đôn mới siêu lòng. Ông thử thách em gái bằng cách giao nhiệm vụ rải truyền đơn ở thị xã Hà Đông.

Sau một lớp huấn luyện ngắn ngày, tháng 10 năm 1928, bà được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Làm giao thông liên lạc của Kỳ bộ Thanh niên Bắc kỳ, bà hóa trang như con gái nhà giàu đi buôn bán vải tấm, đóng kiện hàng, lên tàu hỏa chạy chuyến đêm, đưa thư và truyền đơn vào Thanh Hóa, Nghệ An an toàn. Nhiều người nhắc nhớ và khâm phục bà mưu trí, dũng cảm, chính là chuyến đi nhận vũ khí từ Hải Phòng về Hà Nội, hết sức mạo hiểm, khi bà đang độ 20 xuân xanh.

Nhận nhiệm vụ do đồng chí Đỗ Ngọc Du, phụ trách công tác giao thông và tài chính của Xứ ủy Bắc kỳ giao, bà mượn cháu gái bộ quần lĩnh tía, giầy nhung, áo lụa màu hoa lý, ngoài phủ áo sa đen khuy vàng, ô tím, lên toa hạng nhất - première, chuyên dành cho quan Tây và công chức cao cấp để che mắt địch, đáp tàu xuống Hải Phòng. Bà đến nhà cơ sở, nhận súng brô-ninh, rồi lại lên toa xe hạng nhất trở về Hà Nội; còn ông Nguyễn Đức Cảnh có nhiệm vụ bảo vệ, khi đi Hải Phòng và trở về chỉ lên toa “hạng bét” - quatrième” (toa hạng bốn); nhưng đến ga Gia Lâm thì mất hút bóng kiều nữ Mai Ngọc Thuyết. Hồi ký còn ghi lại rất sinh động chi tiết rất thú vị tâm trạng của ông Nguyễn Đức Cảnh khi bà về tới 5D Hàm Long: Tôi đặt phịch va li xuống nhà. Anh Cảnh giật mình nhỏm dậy mừng quá: “Trang về đấy ư?”. Mọi người cùng xô lại. Lúc này tôi mới biết, khi xuống tàu, tôi ra cửa Premier- cho người đi vé hạng Nhất, còn anh Cảnh ra cửa Quatrième - cho người đi vé hạng bốn; anh không nhìn thấy tôi nên rất lo lắng. Các anh bảo: “Phen này mà mất cô Trang thì cậu Cảnh chết”.Thấy bà về an toàn cả người và súng, mọi người mới thở phào nhẹ nhõm, ăn mừng thắng lợi bằng bữa cơm cá ngay tại 5D Hàm Long.

Nhà số 5D phố Hàm Long - nơi thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam (3-1929).

Tình yêu đơm hoa kết trái khi đi “vô sản hóa” ở Nam Định

Những năm 1928-1929, Kỳ bộ Thanh niên Bắc kỳ chủ trương đưa các hội viên là học sinh, trí thức ở thành thị đến các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ, đồn điền các tỉnh để cùng sinh hoạt và làm việc, qua đó rèn luyên bản lĩnh cách mạng, tuyên truyền giác ngộ, vận động, tổ chức công nhân đấu tranh.Vì vậy, anh em ông Mai Lập Đôn, Mai Ngọc Thuyết và ông Khuất Duy Tiến đi vô sản hóa ở Nam Định. Bà được ông Trần Văn Lan (bí danh là Giáp cóc) đưa vào nhà máy sợi học nghề, sau lại chuyển sang nhà máy tơ. Vốn là con gái Hà Nội, chỉ làm nghề thêu ren, lần đầu tiên, bà biết thế nào là lao động 8 giờ bị bọn chủ bóc lột, ăn chặn, đánh đập, nhưng vẫn đói vàng mắt. Có khi không còn đồng xu nào đong gạo, bà vẫn phải đi làm từ 6 giờ sáng đến 6 gờ tối, uống nước cầm hơi 4 ngày liền. Gian nan rèn luyện ý chí. Bà đã tuyên truyền trong chị em thợ bằng cách làm thơ lục bát dễ hiểu, dễ thuộc và tổ chức được Hội tương tế trong phân xưởng guồng sợi. Mọi người đồng lòng trích quỹ của Hội mua báo Phụ nữ Tân văn, mở mang kiến thức, đòi quyền lợi của nữ giới. Từ những hạt giống đỏ mà bà và các đồng chí gây dựng, đầu năm 1930, công nhân nhà máy sợi đã bãi công chống chủ đánh đập, cúp phạt, tăng lương và phụ cấp đắt đỏ; thực hiện ngày làm 8 giờ giành thắng lợi

Trong những ngày đi “Vô sản hóa”, ông Nguyễn Văn Mẫn, vốn quê ở thị xã phủ Lạng Thương (nay là Thành phố Bắc Giang), đã cảm mến bà. Họ tổ chức kỷ niệm cách mạng Tháng Mười Nga ngày 7-11-1929, rải truyền đơn ở Ngã Sáu Nam Định. Nhưng rồi tai họa đã ập tới. Ông Mai Lập Đôn bị địch bắt trong khi đang rải truyền đơn. Có kẻ phản bội trong Đảng đã khai báo các đồng chí. Bọn địch lần theo dấu vết hoạt động và chúng treo thưởng 5000 đồng Đông Dương cho ai bắt được bà. Cần phải đưa bà về Hà Nội cho an toàn. Trong hoàn cảnh đó, các đồng chí cùng hoạt động đứng ra tác thành cho ông bà. Nhiều năm sau, trong hồi ký, bà xúc động kể lại: “Tôi chỉ biết anh Tám là đồng chí tốt, cũng không biết anh đang ở trong Tỉnh ủy Nam Định. Gọi là cưới nhưng chỉ có các đồng chí Hới, Phiếm Chu, Ba Ngọ và chúng tôi cùng ngồi nói chuyện với nhau một buổi tối”. Xa gia đình, nhưng tình cảm đồng chí ấm áp trong buổi thành hôn là kỷ niệm vô cùng đẹp đẽ sâu sắc trong tâm khảm người phụ nữ sớm dâng tuổi thanh xuân cho sự nghiệp giải phóng nhân dân khỏi kiếp nô lệ, lầm than.

Một mình vượt dốc, gánh trên vai việc nước việc nhà

Tình cảm vợ chồng đang lúc mặn nồng, phải chia tay kẻ bắc, người nam. Tổ chức bố trí cho bà trở về ở trong hiệu thuốc lào Thuận Mỹ, số nhà 15 Hàng Nón, vốn là cơ sở của Công hội Đỏ Bắc kỳ. Bà tiếp tục tuyên truyền chị em tiểu thương, thêu, ren. Theo lời kể của con gái bà là Nguyễn Thị Hồng Tuyến, chúng tôi biết thêm: ông Mai Lập Đôn bị địch bắt giam ở Sở mật thám đã báo tin ra, bọn địch đánh hơi thấy bà ở Hà Nội, nên tháng 7- 1930, bà đã đi ngay lên Bắc Giang, nương náu ở gia đình nhà chồng. Từ đây, bà lấy tên là Hoàng Kỳ để giữ bí mật tung tích, dần dần tìm cách liên lạc, bắt mối hoạt động. Nhưng họa vô đơn chí! Trên đường đi công tác ở Yên Thế, ông Mẫn đã bị địch bắt ở Bắc Giang tháng 10-1931 rồi bị địch kết án tù khổ sai đày ra Côn Đảo. Khi ấy, con gái Hồng Tuyến của ông bà mới 4 tháng tuổi, bà cắn răng xuống Hà Đông tá túc, chờ đợi tin tức: ông bị địch kết án tù khổ sai đày ra Côn Đảo. Đầu năm 1933, bà bế con gái xuống cảng Hải Phòng tiễn chồng. Nhìn chồng nằm cùng anh em ở gầm tàu, tay chân xích liền nhau, ruột đau như cắt, bà làm mấy câu thơ gửi ra Côn Đảo cho chồng, ra đi không biết có ngày về:“Tàu quay mũi lệ đôi hàngCàng nhìn khuất bạn, lệ càng tuôn rơiSương che lấp bạn xa rồiBạn ơi thấu nỗi lòng người này chăng?”Nuốt nước mắt vào lòng, bà quay về Bắc Giang, làm căn nhà tranh nhỏ ở ngã ba phố Tiền Môn (nay là số nhà 206, đường Nguyễn Văn Cừ) để sinh sống và tìm cách bắt liên lạc với Đảng. Gặp được đồng chí Nguyễn Văn Giảng, hoạt động ở Thanh Hóa về Bắc Giang và ông Nguyễn Trung Tẩy, vốn là bạn học cùng chồng, làm thư ký nhà máy Điện, bà bàn bạc, lập tổ tự động công tác khi chưa bắt được liên lạc với Đảng. Đến năm 1935, cơ sở cách mạng đã được gây dựng và lan dần trong các tầng lớp nhân dân trong thị xã, như các ông Minh Tước (nhà giáo), Ký Thành (công chức Sở Giây thép), Cự Hải (nhà buôn), ông Dư (Thư ký nhà Ga), ông Mão (mục sư Tin Lành), Lã Hữu Quỳnh (nhạc sĩ).Những năm 1936-1937, nhiều đồng chí từ Côn Đảo đã trở về đất liền, do Mặt trận Bình dân Pháp có chính sách ân xá tù chính trị; nhưng với bà Mai Ngọc Thuyết, càng trông mong tin tức của chồng thì càng biền biệt mù khơi. Thống sứ Sa-ten bác đơn của bà xin ân xá cho chồng. Nén buồn đau, bà vẫn hoạt động tích cực. Năm 1938, bà gặp được đồng chí Hạ Bá Cang (tức Hoàng Quốc Việt) tại hiệu bò Bô-vô của ông Nhã ở Bắc Ninh. Sau đó, cuối năm 1938, chi bộ đầu tiên của thị xã Phủ Lạng Thương được thành lập do đồng chí Vương Văn Trà làm Bí thư. Chi bộ gồm các đồng chí: Mai Ngọc Thuyết, Nguyễn Ninh, Nguyễn Văn Lung, Ngô Tuấn Tùng, Nguyễn Văn Giảng.Sự kiện này đánh dấu bước phát triển của cách mạng ở Bắc Giang. Đồng chí Hạ Bá Cang lấy Bắc Giang làm địa bàn hoạt động, đóng vai thư ký ở hiệu bò Bô-vô của ông Sáu, nên cơ sở cách mạng từ thị xã phát triển dần lên Tân Ấp, Lục Liễu, chợ Thắng (Hiệp Hòa)... Một đường dây liên lạc đã được bà Mai Ngọc Thuyết thiết lập từ Tân Ấp, Lục Liễu về Hà Nội, để đồng chí Hạ Bá Cang liên lạc với đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, nhận chỉ thị mới. Những năm 1936-1939, bà Mai Ngọc Thuyết và cán bộ, cơ sở thị xã Bắc Giang đã nuôi giấu các đồng chí lãnh đạo của Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc kỳ như: Hạ Bá Cang, Tô Hiệu, Trần Quốc Hoàn, Lê Hoàng (tức Dung mắt lửa)… tạo thuận lợi cho công tác xây dựng an toàn khu của Đảng.Tháng 9 năm 1939, phát xít Nhật ở Đông Dương đưa nhân dân vào thảm họa chiến tranh tàn ác, khủng bố trắng khắp các vùng. Đồng chí Hạ Bá Cang rút sang Thái Nguyên; một số đồng chí trong chi bộ thị xã được điều đi công tác nơi khác; bà Thuyết ở lại, sinh hoạt với chi bộ Hương Gián. Tháng 4 năm 1941, bà bị địch bắt, đưa về Hỏa Lò với số tù 258750. Suốt 1 năm 4 tháng bị tra tấn tàn ác, bị ép cung, đối chất 7 lần với người đã khai và dẫn địch về bắt mình, bà vẫn một mực không khai, kiên trung bảo vệ Đảng; các đồng chí trong Hỏa Lò vô cùng kính phục bà, Đồng chí Trần Đăng Ninh lúc đó là Bí thư Chi bộ nhà tù đã có sự chỉ đạo đấu tranh với địch để bảo vệ bà. Đặc biệt, Luật sư Phan Anh đã bảo vệ bà suốt hai tiếng đồng hồ tại phiên tòa.Nữ chiến sĩ Mai Ngọc Thuyết (Mai Vũ Trang) khi bị Pháp bắt giam tại nhà tù Hỏa Lò.Tháng 8 năm 1942, bà được ra tù, nhưng bị quản thúc ở Kép (quê mẹ chồng). Giữa lúc đó, bà nhận được tin dữ như sét đánh ngang tai: Ông Nguyễn Văn Mẫn đã hy sinh ở Côn Đảo ngày 3-3-1943. Đau đớn khôn kể xiết, bà kiên gan đi trên con đường đã chọn và nuôi dậy con gái Nguyễn Thị Hồng Tuyến, lúc này 13 tuổi. Hồng Tuyến làm liên lạc cho mẹ từ khi 7 tuổi, nên đã thông thạo công việc, giúp mẹ rất tốt trong các việc canh gác, giao thông... Giữa năm 1943, bà tìm cách về thị xã, mở lại quán hàng ở ngã ba Tiền Môn để làm trạm liên lạc. Một số đồng chí từ nhà tù Sơn La trốn thoát ra, bà đón tiếp rồi đưa về các cơ sở. Công tác tuyên truyền cho Việt Minh, gây dựng và phát triển cơ sở, phân phát bí mật báo chí cách mạng Cờ Giải Phóng, Cứu Quốc …được bà tổ chức thực hiện tốt ở thị xã và các vùng nông thôn ven thị xã.Báo Cờ Giải Phóng, Cứu Quốc - những tờ báo cách mạng do Bà Mai Ngọc Thuyết tổ chức bí mật phân phát .Tháng 4 năm 1945, bà và con gái được tổ chức cho chuyển lên Yên Thế hoạt động. Đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh phân công bàphụ tráchtổng Bố Hạ gồm bốn xã: Cồn, Bo, Hương Vĩ, Bố Hạ. Tự vệ các xã lan rộng ra các thôn. Đặc biệt, Ủy ban Giải phóng đã được thành lập ở Bố Hạ. Khí thế cách mạng dâng cao, ngày 10-8, đồn Bố Hạ bị phá tan, bà đeo súng Xanh- tê-chiên dẫn đầu đoàn quân chiến thắng. Ngày 12-8, bà được cử làm Chủ tịch cuộc mít tinh ở phủ Yên Thế và lên khán đài nói chuyện với đồng bào. Sau đó, tự vệ bắn bảy phát súng trường để làm lễ chào cờ. Thật thiêng liêng, xúc động biết bao khi người dân nô lệ đã được giải phóng khỏi xích xiềng.Sáng 21-8, bà đã từ Bố Hạ, dẫn đầu khối tự vệ oai dũng, rầm rập vượt sông tiến tới thị xã. Đồng chí Nguyễn Thanh Bình làm Chủ tịch, Ninh Văn Phan làm Phó Chủ tịch. Bà được cử làm Ủy viên Ủy ban Nhân dân Cách mạng Lâm thời, phụ trách công tác tuyên truyền.Một trang đời mới đã mở ra cho người con gái Thịnh Hào, Hà Nội - người cán bộ tỉnh Bắc Giang đã dâng hiến tuổi thanh xuân cho cách mạng, kiên cường vượt qua bao sóng gió của cuộc sống để đi trọn sự nghiệp mà Bà đã thề suốt đời hy sinh phấn đấu, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Từng là Tỉnh ủy viên tỉnh Bắc Giang, Bí thư Phụ nữ Cứu quốc, rồi làm Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Tỉnh; cán bộ Tòa án nhân dân tối cao, bà xứng đáng là người nữ cán bộ xuất sắc của Đảng, tâm đức sáng vằng vặc như sao Khuê.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn