Bài viết

Người nữ giao liên Đinh Thị Biệu - Ngọn lửa không tắt giữa những năm tháng giữ dội

Hà Tĩnh08/05/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Giữa cuộc sống hiện đại hối hả, đôi khi ta bắt gặp những con người bình dị nhưng chất chứa trong họ cả một trời kí ức hào hùng của dân tộc. Bà Đinh Thị Biệu, sinh năm 1938 tại vùng đất thép Củ Chi, là một nhân chứng như thế. Nay đã 87 tuổi, mái tóc đã bạc theo năm tháng, nhưng ánh mắt bà vẫn sáng ngời và giọng nói vẫn hào sảng, vang lên như còn nguyên hơi thở của những ngày khói lửa. Bà từng là giao liên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và đồng thời là người trực tiếp vận chuyển thuốc súng, đạn dược cho lực lượng cách mạng. Thời ấy, bà thuộc Đội 3 anh hùng, nơi tập hợp những con người gan dạ, quả cảm, sẵn sàng hi sinh tất cả vì độc lập dân tộc.

Giữa cuộc sống hiện đại hối hả, đôi khi ta bắt gặp những con người bình dị nhưng chất chứa trong họ cả một trời kí ức hào hùng của dân tộc. Bà Đinh Thị Biệu, sinh năm 1938 tại vùng đất thép Củ Chi, là một nhân chứng như thế. Nay đã 87 tuổi, mái tóc đã bạc theo năm tháng, nhưng ánh mắt bà vẫn sáng ngời và giọng nói vẫn hào sảng, vang lên như còn nguyên hơi thở của những ngày khói lửa. Bà từng là giao liên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và đồng thời là người trực tiếp vận chuyển thuốc súng, đạn dược cho lực lượng cách mạng. Thời ấy, bà thuộc Đội 3 anh hùng, nơi tập hợp những con người gan dạ, quả cảm, sẵn sàng hi sinh tất cả vì độc lập dân tộc.

Nhấn vào ảnh để phóng to

Những năm tháng chiến tranh ác liệt, bà Biệu phải thực hiện những chuyến vận chuyển vô cùng hiểm nguy. Quãng đường bà đi trải dài từ Trảng Bàng đến tận trung tâm Sài Gòn, hơn 45 km đầy chốt gác của quân thù. Trên chiếc xe đạp đơn sơ, đôi chân lam lũ của bà ngày ngày đạp qua những đoạn đường dài dằng dặc, chỉ cần một khoảnh khắc sơ sẩy cũng có thể mất đi mạng sống. Để tránh bị phát hiện, bà đã nghĩ ra cách giấu thuốc súng, đạn dược ngay trong bánh xe và vỏ xe đạp. Một cách làm độc đáo, táo bạo mà chỉ có những người nhanh trí, mưu lược như bà mới có thể nghĩ ra. Mỗi chuyến đi là một lần đối mặt với hiểm nguy, nhưng bà vẫn bình tĩnh, kiên cường, không một lời than vãn.

Có lần vì quá mệt mỏi sau nhiều ngày liên tục vận chuyển, bà đánh liều gửi chiếc xe đạp có chứa thuốc súng lên nóc xe đò, còn bản thân thì ngồi bên trong. Khi tên lơ xe nghi ngờ hỏi vì sao xe lại nặng, bà chỉ mỉm cười và đáp nhẹ nhàng mà đầy tự tin: “Xe bằng sắt mà sao không nặng.” Một câu nói tưởng chừng đơn giản nhưng lại cứu bà thoát khỏi một tình huống thập tử nhất sinh. Sự bình tĩnh và thông minh của bà đã trở thành tấm gương sáng về bản lĩnh của người chiến sĩ cách mạng.

Dù thời gian đã khiến đôi chân bà đau mỏi và sức khỏe không còn như xưa, nhưng mỗi lần nhắc về những ngày vận chuyển đạn dược cho chiến trường, ánh mắt bà lại bừng sáng lên đầy tự hào. Những hồi ức ấy chưa bao giờ phai nhạt, như một ngọn lửa âm ỉ suốt hàng chục năm. Bà đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó nổi bật là Huân chương Sao vàng do Chủ tịch Lê Đức Anh trao tặng. Đây là minh chứng cho những đóng góp to lớn của bà đối với sự nghiệp cách mạng. Ngoài ra, bà còn được Câu lạc bộ Truyền thống Kháng chiến Thành phố Hồ Chí Minh tặng tám chữ vàng: “Trọn nghĩa nước non, trọn tình đồng đội”, như một lời tri ân sâu sắc dành cho người phụ nữ kiên trung.

Sự hy sinh thầm lặng ấy đã được Đảng và Nhà nước trân trọng ghi nhận. Bà được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có:

  • Huân chương Sao vàng – do Chủ tịch Lê Đức Anh trao tặng, minh chứng cho những cống hiến đặc biệt xuất sắc của bà cho sự nghiệp cách mạng.

  • Tám chữ vàng danh dự của CLB Truyền thống Kháng chiến Thành phố Hồ Chí Minh: “Trọn nghĩa nước non, trọn tình đồng đội.”

  • Đó không chỉ là phần thưởng, mà còn là sự tri ân sâu sắc của đất nước đối với người chiến sĩ kiên trung ấy.

    Nhấn vào ảnh để phóng to

    Nhấn vào ảnh để phóng to

    Từ cuộc đời bà Đinh Thị Biệu, thế hệ trẻ, đặc biệt là đoàn viên ngày nay, học được rất nhiều giá trị quý báu. Đó là lòng yêu nước bền bỉ, không cần những điều lớn lao nhưng luôn sẵn sàng cống hiến khi Tổ quốc cần. Đó là tinh thần vượt khó, dám đối diện và vượt qua thử thách bằng nghị lực và sự thông minh. Đó còn là tấm gương của bản lĩnh kiên cường, của niềm tin vào lý tưởng và của sự đoàn kết, nghĩa tình giữa những con người cùng chung chí hướng. Thời bình không đòi hỏi chúng ta đạp xe hàng chục cây số mang đạn dược, nhưng đòi hỏi thế hệ trẻ biết sống có trách nhiệm, biết dựng xây đất nước bằng tri thức, lòng nhân ái và tinh thần cống hiến.

    Ông Bùi Đình Chiến và Hành trình cống hiến cho thế hệ trẻ hôm nay - Ảnh 1.

    Ông Bùi Đình Chiến

    ẢNH: VŨ THƠ

    Thế nhưng, con đường đến với cách mạng của ông lại mở ra theo một cách khác, đặc biệt hơn. Chính Bí thư Đảng ủy xã đã đến tận nhà vận động, giới thiệu ông vào một đơn vị mới thành lập: Đội TNXP đặc biệt, quy tụ những thanh niên ưu tú, có lý lịch trong sạch và tinh thần giác ngộ cao. Thế là ông được tham gia "Lớp Anh Trỗi 1". Sau 2 tháng huấn luyện cấp tốc tại T.Ư Đoàn, ngày 16.8.1965, ông Chiến cùng hơn 300 đồng đội trong tiểu đoàn chính thức bước vào cuộc hành quân lịch sử tiến vào Nam.

    Hành trình ấy không có xe cơ giới, không có những con đường bằng phẳng. Đó là một cuộc trường chinh đi bộ ròng rã gần 2 tháng trời. Để tránh những trận bom dữ dội của địch, đoàn quân thực hiện phương châm "đêm đi ngày nghỉ". Bóng đêm của núi rừng Trường Sơn trở thành người bạn đồng hành, che chở cho những bước chân không mỏi của họ. "Đi đâu, qua địa bàn nào cũng không biết, chỉ nhớ những điểm nó hay đánh phá như mấy cái bến phà ở Thanh Hóa, ở Quảng Bình thôi", ông hồi tưởng.

    Máu, mồ hôi và nước mắt

    Vượt sông Bến Hải, đến địa phận Quảng Trị, ông Chiến và đồng đội được biên chế vào phục vụ trên đường dây 559 huyền thoại - đường mòn Hồ Chí Minh. Nhiệm vụ của họ rất khó khăn và nguy hiểm: vừa làm giao liên dẫn đường, vừa vận chuyển hàng hóa cho chiến trường. Họ cõng trên lưng những hòm đạn nặng trịch, những bao gạo, và cả những quả đạn B40. Lúc trở ra, những đôi vai ấy lại gánh trọng trách thiêng liêng hơn: cáng đồng đội bị thương từ mặt trận về tuyến sau.

    Con đường họ đã đi không chỉ có dấu chân người mà còn thấm đẫm máu, mồ hôi và nước mắt. Một trong những ký ức đau thương nhất mà ông Chiến không bao giờ quên là lần vượt sông Thạch Hãn. Nước lũ từ thượng nguồn đổ về cuồn cuộn, dữ dội. Họ phải căng một sợi dây thừng và lần lượt bám vào để bơi qua sông. Trong một chuyến đi định mệnh, sợi dây bị đứt, và người đồng đội tên Hưởng bị dòng nước lũ cuốn trôi. "Đã hy sinh luôn. Chưa hề đánh nhau, chưa gì hết", ông Chiến nghẹn ngào.

    Ông Bùi Đình Chiến và Hành trình cống hiến cho thế hệ trẻ hôm nay - Ảnh 2.

    Ông Bùi Đình Chiến (bìa phải) cùng đồng đội thăm lại nơi từng chiến đấu

    ẢNH: NVCC

    Năm 1967, trước tình hình chiến trường ngày càng khốc liệt và sự thiếu hụt quân số, đơn vị TNXP của ông được lệnh bổ sung thẳng vào lực lượng Quân giải phóng. Ông chính thức trở thành người lính của Trung đoàn 6, Quân khu Trị Thiên - đơn vị sau này được vinh danh là Trung đoàn Phú Xuân Anh hùng.

    Ông đã tham gia chiến dịch Mậu Thân năm 1968 suốt 26 ngày đêm tại Huế. Những năm tháng trong quân ngũ, ông và đồng đội phải đối mặt với nhiều gian khổ. "Người rận, quần áo rận, rồi đầu thì chấy, rồi ghẻ lở hắc lào đầy thân", ông kể. Họ sống và chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn nhưng tinh thần thì chưa bao giờ nao núng. Ông Chiến đã được vinh danh trong bảng vàng ghi công do đã đóng góp nhiều thành tích xuất sắc vào truyền thống của trung đoàn.

    Bản thân ông Chiến cũng nhiều lần đối mặt với tử thần, là một trong những người đầu tiên của đơn vị bị sốt rét ác tính. Cơn sốt quật ngã ông khi đang cõng 2 thùng đạn B40 nặng hơn

    30 kg. "Sốt lâu ngày rồi nhưng tôi vẫn cố đi", ông kể. Ông ngất đi và bất tỉnh suốt 3 ngày liền. Các đồng đội đã thay nhau cáng ông cùng vũ khí, quân trang, vượt qua những đỉnh núi cao rét buốt để xuống núi chữa trị. "Nếu hôm ấy tiểu đội trưởng mà không nhiệt tình, bảo nghỉ trên đỉnh cao là tôi không qua khỏi rồi", ông bồi hồi nhớ lại.

    Năm 1972, khi đang làm liên lạc cho trung đội trưởng hậu cần, một trận bom B-52 đã đánh sập căn hầm của ông Chiến. Một thanh gỗ lớn từ nóc hầm rơi xuống, đập thẳng vào đầu ông. "Chảy máu nhiều lắm", ông kể, nhưng ông đã nén đau để không bị đưa về tuyến sau, không được tiếp tục ở lại chiến đấu cùng anh em.

    Trở về "vác tù và hàng tổng"

    Năm 1973, sau nhiều năm xa nhà, ông được về phép. Mẹ già thấy con trai đã lớn tuổi, cứ khóc và giục ông cưới vợ. Chiều lòng mẹ, ông kết hôn. Đám cưới diễn ra chóng vánh, và chỉ 12 ngày sau ông lên đường trở lại chiến trường. Đó là lần cuối cùng ông được gặp mẹ. Năm 1974, mẹ ông qua đời khi ông vẫn đang ở tiền tuyến.

    Năm 1976, ông Bùi Đình Chiến xuất ngũ, trở về quê hương. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong ông, tinh thần người lính vẫn vẹn nguyên. Không cho phép mình nghỉ ngơi, ông miệt mài cống hiến cho cộng đồng. Ông làm Bí thư chi bộ hơn 10 năm, kiêm cả xóm trưởng, rồi tham gia Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh, và hiện là Chủ tịch Hội Cựu TNXP của xã.

    Khi có người hỏi tại sao ông tuổi cao mà vẫn cứ "vác tù và hàng tổng" mãi, ông cười hiền trả lời: "Tôi ăn cơm Nhà nước từ năm 18 tuổi, đến giờ là bệnh binh, vẫn là ăn "gạo" của Nhà nước. Không vác tù và hàng tổng thì làm cái gì?".

    Câu nói mộc mạc ấy chứa đựng một triết lý sống sâu sắc: triết lý về sự cống hiến và trách nhiệm. Với ông, phục vụ nhân dân, phục vụ quê hương không phải là gánh nặng, mà là một niềm vinh dự, một cách để trả ơn đất nước. Hành trang tự hào của ông là hàng chục tấm huân, huy chương về một thời hoa lửa và bằng khen, giấy khen khi tham gia công việc thời bình, trong đó có Huân chương Kháng chiến hạng 3 do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước trao tặng.

    Chia sẻ với phóng viên Thanh Niên, ông Phạm Văn Toàn, Phó chủ tịch Ủy ban MTTQ VN xã, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Khánh Thiện, cho biết ông Bùi Đình Chiến là cán bộ hội nhiệt tình, trách nhiệm, luôn đi đầu trong mọi nhiệm vụ được giao. Ông Chiến đã được các cấp khen thưởng với nhiều bằng khen, giấy khen.

    Cuộc đời ông Bùi Đình Chiến là bản trường ca về lòng yêu nước, về sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ. Câu chuyện của ông mãi là bài học quý giá, là ngọn lửa truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay về tình yêu Tổ quốc và tinh thần phụng sự không bao giờ tắt.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn
    Người nữ giao liên Đinh Thị Biệu - Ngọn lửa không tắt giữa những năm tháng giữ dội | Câu chuyện thời hoa lửa