Bài viết

Người ở lại bến đò B

Trong kháng chiến chống Mỹ, bến đò B, thôn Tùng Luật, xã Vĩnh Giang (huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị) là nơi đưa đón bộ đội vào Nam ra Bắc góp sức cho quê hương miền Nam ruột thịt. Cùng với cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, bến đò B đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước sâu sắc.

Quảng Trị05/11/2025Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau hoà bình, bến đò B không chỉ là nơi ghi nhớ công ơn của những anh hùng, mà còn là nơi có những con người sống qua chiến tranh tình nguyện ở lại mảnh đất này để hương khói cho đồng đội hằng năm...

Câu chuyện của người lính già

Trưa tháng tư nắng vàng rực đôi bờ Bến Hải, tôi đánh thức người lính già chưa kịp chợp mắt sau buổi sáng liền tay làm sạch cỏ dại ở khuôn viên bến đò B.

Người lính già ấy tên là Lê Quang Trung, từng có mặt khắp các chiến trường Nam, Trung, Bắc trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Cả đời ông gắn bó với bến đò B như máu thịt của mình và lúc xế bóng không chỉ là kỷ niệm về chiến tranh, về đồng đội, mà còn là tình yêu, nghĩa vợ chồng.

Vợ ông, người chèo đò ở bến đò Tùng Luật năm xưa - bà Võ Thị Huệ được ông kể lại bằng tất cả sự kính nể và lòng biết ơn: "Sau khi thực dân Pháp thất thủ, Mỹ - Quân đội Sài Gòn đổ bộ, xâm chiếm miền Nam Việt Nam, rồi liên tục mở các đợt đánh phá ở miền Bắc. Lúc bấy giờ, mẹ nó mới tròn mười bảy tuổi, quê ở Triệu Phong (Quảng Trị) ra miền Bắc theo diện tập kết, nhưng vừa đặt chân đến thôn Tùng Luật, liền viết đơn tình nguyện xin ở lại đây để làm giao liên, chèo đò đưa bộ đội và vận chuyển vũ khí, đạn dược qua sông, phục vụ cho chiến trường miền Nam".

Điều bà Huệ mong muốn được cấp trên chấp thuận, nhưng ở lại nơi này làm nhiệm vụ cho hậu phương kháng chiến không phải là dễ. Những năm tháng chiến tranh ác liệt, cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, bến đò B... đã trở thành những mục tiêu bắn phá ác liệt của Mỹ - Quân đội Sài Gòn. Bọn chúng âm mưu cắt đứt tuyến chi viện chính của quân và dân ta cho chiến trường miền Nam.

Suốt những năm tháng đó, bà Huệ cùng với đồng đội phục vụ kháng chiến một cách không ngơi nghỉ, hết nấu cơm, vắt từng nắm gói vào lá chuối cho bộ đội, lại chèo thuyền đưa các anh qua sông dưới làn mưa bom bão đạn vào đánh trận, rồi đêm đến đưa thương binh ta phía bên kia về lại hậu phương chữa trị. Có đêm phía ta bị thương lên tới hàng trăm người, bà Huệ kiêm luôn cả công việc của một y tá.

Ông Trung chợt nhìn ra bến đò B sát nhà mình rồi kể tiếp: "Tui và cô ấy gặp nhau trên một chuyến đò từ bờ Nam ngược ra, khi đó tui bị thương nặng, được bà nó chăm sóc, và cũng vì cảm phục nhau mà nên vợ nên chồng...".

Ở lại bến đò B

Năm 1963, người chiến sĩ cách mạng Lê Quang Trung gửi lại cô thôn nữ đưa đò Võ Thị Huệ lời thề: "Chiến tranh kết thúc, nếu còn sống anh nhất định sẽ quay về, em hãy đợi ngày chiến thắng". Rồi chàng trai lên đường, xông pha trận mạc. Hơn mười năm, là một xạ thủ pháo binh, anh có mặt khắp chiến trường miền Nam, đánh nhiều trận ác liệt.

Ông bùi ngùi nhớ lại: "Nói thật, những tháng ngày lăn lộn giữa chiến trường, sự sống mỏng manh hơn sợi tóc, nhiều lúc tui nghĩ bà nó khó lòng giữ được lời thề, hơn nữa liệu bà nó còn sống qua những chuyến đò...".

Người lính già bỗng trở nên sùi sụt: "Ngày trở về, tui không còn phải qua đò từ bờ Nam, mà ung dung đi trên cầu Hiền Lương, nhưng mắt cứ nhìn xuống dòng Bến Hải, nhìn về bến đò B, với bao câu hỏi lẫn lộn trong đầu, Huệ còn sống hay đã chết, nếu còn sống, cô ấy ở vậy hay đã đi lấy chồng..."

Ông Trung tạm gác câu chuyện với chúng tôi bởi một cuộc điện thoại từ miền Nam gọi ra. Sau gần một giờ đồng hồ, chúng tôi mới thấy ông gác máy và cho biết, đó là một nữ đồng đội tên là Hoa thời cùng ông chống Mỹ. Cứ đúng dịp những ngày tháng tư, bà Hoa lại gọi về hỏi thăm sức khỏe và việc nhang khói cho đồng đội ở bến đò B.

Ông bảo với chúng tôi cuộc sống không chỉ có áo cơm, mà còn có cả sự tri ân những người đã anh dũng ngã xuống cho quê hương độc lập hôm nay. Suốt mấy mươi năm qua, cùng với người dân Tùng Luật, ông và người vợ yêu quý của mình, bên cạnh việc hương khói, tưởng nhớ đồng đội hy sinh, còn miệt mài với công việc tìm kiếm hài cốt các anh đưa về các nghĩa trang an táng cho ấm cúng.

Buổi chiều, dòng Bến Hải êm ả như ru. Ông Trung thắp lên bàn thờ nén nhang, rồi dẫn tôi ra bến đò B. Ở đó, những bông hoa màu vàng rực phủ đầy sóng nước. Người lính già lặng lẽ ngắt những cánh hoa, thả xuống dòng sông. Tôi hỏi ông đó là hoa gì, ông lặng đi một lúc rồi nói: "Đó là hoa dại, lúc còn sống, trong một lần đi tìm hài cốt cho đồng đội, vợ tui đã mang về đây trồng. Bà ấy chưa kịp đặt tên thì đã mất".

Sau lưng chúng tôi, tự lúc nào người con gái dắt đứa trẻ cũng ngắt những đoá hoa. Chị là Lê Thị Oanh, con gái đầu của ông Trung - bà Huệ, lấy chồng người ở Thanh Hóa, là bộ đội Hải quân Quảng Trị. Thương ba già không người chăm sóc, sau khi mẹ mất, cô về đây ở luôn với ông.

Chị Oanh cho biết, năm 2004, Ban Phụ nữ, Cục Chính trị - Bộ Tư lệnh Hải quân xây tặng cho ba mẹ chị ngôi nhà. Từ đó đến nay, ngôi nhà không chỉ để ở, mà còn là nơi thờ cúng, tưởng nhớ và tri ân các anh hùng liệt sĩ hy sinh ở bến đò B và trên con sông Bến Hải lịch sử. Mẹ chị mới ở được 8 tháng thì qua đời do vết thương cũ tái phát.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn