Cựu chiến binh

Người pháo thủ giữa đại ngàn

Ông Hoàng Đức Minh (sinh năm 1953, quê Thanh Sơn, Phú Thọ) là cựu chiến binh pháo binh từng chiến đấu tại chiến trường B3 Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ. Từ năm 1971, ông cùng đồng đội kéo pháo, cơ động trận địa và chi viện hỏa lực cho bộ binh trong nhiều trận đánh lớn. Ông trực tiếp tham gia chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, góp phần vào đại thắng mùa Xuân và ngày đất nước hoàn toàn thống nhất.

Phú Thọ09/05/2026Nguyễn Bảo Linh (Đoàn trường THPT Thanh Thuỷ- Đoàn xã Thanh Thuỷ)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông Hoàng Đức Minh sinh năm 1953 tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ – vùng quê trung du giàu truyền thống cách mạng. Tuổi thơ của ông lớn lên trong những năm tháng đất nước còn chìm trong chiến tranh. Những buổi tối cả làng tắt đèn tránh máy bay, những tiếng còi báo động vang lên giữa đêm hay hình ảnh các đoàn bộ đội hành quân qua làng đã in sâu vào ký ức tuổi thơ của ông.

Lớn lên giữa thời kỳ cả dân tộc đứng lên vì độc lập, người thanh niên Hoàng Đức Minh sớm mang trong mình khát vọng được góp sức bảo vệ Tổ quốc. Năm 1971, khi vừa tròn mười tám tuổi, ông tình nguyện nhập ngũ và sau thời gian huấn luyện được biên chế vào lực lượng pháo binh thuộc chiến trường B3 Tây Nguyên.

Những ngày đầu đặt chân tới Tây Nguyên, người lính trẻ không khỏi choáng ngợp trước núi rừng đại ngàn rộng lớn. Nhưng đi cùng với vẻ hùng vĩ ấy là sự khắc nghiệt của chiến trường. Đường hành quân quanh co, dốc núi hiểm trở, mưa rừng kéo dài và sốt rét luôn là nỗi ám ảnh đối với người lính.

Trong đơn vị pháo binh, ông Hoàng Đức Minh đảm nhiệm nhiệm vụ pháo thủ. Công việc của ông không chỉ là vận hành pháo mà còn phải cùng đồng đội kéo pháo, ngụy trang trận địa và bảo vệ khí tài giữa điều kiện chiến đấu vô cùng gian khổ.

Những khẩu pháo nặng hàng tấn phải được kéo qua rừng sâu bằng sức người. Có những đoạn dốc trơn trượt sau cơn mưa, hàng chục chiến sĩ phải ghì dây kéo từng chút một để khẩu pháo không lao xuống vực. Bùn đất bám kín quần áo, đôi bàn tay rớm máu vì dây kéo nhưng không ai bỏ cuộc.

Ông từng kể rằng điều khó khăn nhất đối với pháo binh không chỉ là chiến đấu mà còn là giữ bí mật trận địa. Sau mỗi lần khai hỏa, đơn vị phải nhanh chóng di chuyển sang vị trí khác để tránh pháo kích và máy bay địch phản công. Có những đêm vừa hành quân vừa kéo pháo suốt hàng chục cây số giữa rừng sâu, ai cũng mệt lả nhưng vẫn động viên nhau tiếp tục tiến lên.

Năm 1972, chiến sự tại Tây Nguyên ngày càng ác liệt. Đơn vị của ông thường xuyên tham gia chi viện hỏa lực cho bộ binh tiến công các cứ điểm của địch. Mỗi lần pháo nổ, cả cánh rừng rung chuyển bởi tiếng đạn rít và ánh lửa lóe sáng giữa màn đêm.

Trong một trận đánh lớn cuối năm 1973, đơn vị của ông bị địch phát hiện vị trí và phản pháo dữ dội. Đất đá tung lên mù mịt, nhiều chiến sĩ hy sinh và bị thương ngay bên cạnh trận địa pháo. Dù vậy, ông cùng những người còn lại vẫn kiên quyết bám pháo, tiếp tục bắn chi viện cho bộ binh phía trước.

Có thời điểm lương thực tiếp tế không kịp, các chiến sĩ phải ăn cơm vắt với muối rang suốt nhiều ngày. Sốt rét rừng khiến nhiều người run lẩy bẩy giữa đêm nhưng sáng hôm sau vẫn tiếp tục kéo pháo hành quân. Chính trong gian khổ ấy, tình đồng đội trở thành nguồn động lực lớn nhất giúp họ vượt qua tất cả.

Đầu năm 1975, chiến dịch Tây Nguyên mở màn thắng lợi đã tạo bước ngoặt lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đơn vị pháo binh của ông liên tục cơ động, bắn phá các tuyến phòng thủ quan trọng của địch, mở đường cho bộ binh tiến lên giải phóng nhiều khu vực chiến lược.

Ông vẫn nhớ như in khí thế của những ngày tháng ấy. Từng đoàn quân nối dài hành quân trong niềm tin chiến thắng. Người dân các vùng giải phóng mang nước uống, lương thực ra giúp bộ đội. Giữa núi rừng Tây Nguyên, ai cũng cảm nhận được ngày toàn thắng đang đến rất gần.

Tháng 4 năm 1975, khi chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu, đơn vị của ông tiếp tục tham gia chi viện cho các cánh quân tiến về Sài Gòn. Những khẩu pháo từng đi qua biết bao núi rừng Tây Nguyên giờ đây tiếp tục vang lên trong chiến dịch cuối cùng của cuộc kháng chiến.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi nghe tin miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả đơn vị vỡ òa trong niềm vui và xúc động. Sau bao năm chiến đấu, hy sinh và mất mát, đất nước cuối cùng đã thống nhất.

Rời quân ngũ sau chiến tranh, ông Hoàng Đức Minh trở về quê hương Thanh Sơn với những ký ức không thể nào quên về một thời tuổi trẻ giữa đại ngàn Tây Nguyên. Dù chiến tranh đã lùi xa, nhưng tinh thần người lính pháo binh năm ấy vẫn luôn hiện hữu trong cuộc sống giản dị đời thường của ông.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn