Anh hùng Lao động

Người phi công của “Mũi tiến công thứ 6” và trận không kích làm tê liệt sân bay Tân Sơn Nhất

Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Lục là một trong những phi công trực tiếp tham gia Phi đội Quyết Thắng thực hiện trận tập kích lịch sử vào sân bay Tân Sơn Nhất chiều 28-4-1975. Từ quá trình huấn luyện thần tốc trên máy bay A-37 đến trận không kích táo bạo góp phần vào thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh, câu chuyện của ông tái hiện một trong những chiến công vẻ vang nhất của Không quân nhân dân Việt Nam.

Quảng Trị09/06/2026Chi đoàn 10 Anh 2 (Đoàn phường Đồng Hới)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trận tập kích bằng máy bay A-37 của Phi đội Quyết Thắng thuộc Trung đoàn 923, Sư đoàn 371, Quân chủng Phòng không - Không quân vào sân bay Tân Sơn Nhất chiều ngày 28-4-1975 được xem là một trong những chiến công đặc biệt xuất sắc của Không quân nhân dân Việt Nam trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Với ý nghĩa chiến lược quan trọng, trận đánh này được nhiều người gọi là “Mũi tiến công thứ 6”, góp phần tạo nên thắng lợi cuối cùng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Một ngày giữa tháng 5 năm 2026, tôi có dịp đến thăm Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Lục tại ngôi nhà của ông trên đường Nguyễn Viết Xuân, phường Phương Liệt, Hà Nội. Ngay khi bước vào phòng khách, tôi không khỏi ấn tượng trước những tấm huân chương, huy chương và hình ảnh lưu giữ cả một chặng đường chiến đấu vẻ vang được treo kín trên tường. Trong tủ trưng bày là hàng loạt hiện vật quý giá như mô hình máy bay, kỷ niệm chương, phù hiệu và những kỷ vật gắn liền với cuộc đời binh nghiệp. Nổi bật nhất là bức ảnh Phi đội Quyết Thắng do nghệ sĩ Nguyễn Xuân Át ghi lại tại sân bay Thành Sơn vào chiều ngày 28-4-1975. Dù đã bước sang tuổi 80, ông vẫn giữ được sự nhanh nhẹn, minh mẫn của người lính không quân năm nào. Bằng giọng kể rắn rỏi và đầy nhiệt huyết, ông đưa tôi trở về những ngày tháng lịch sử cách đây hơn nửa thế kỷ. Chuẩn bị thần tốc cho nhiệm vụ đặc biệt Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Lục, sau khi quân ta giải phóng Huế và Đà Nẵng vào cuối tháng 3 năm 1975, nhiều máy bay chiến đấu A-37 của đối phương đã được thu giữ nguyên vẹn. Nhận thấy đây là cơ hội thuận lợi để tạo đòn tiến công bất ngờ vào thời điểm quyết định của chiến dịch, Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ cho Quân chủng Phòng không - Không quân khẩn trương tổ chức huấn luyện và sử dụng số máy bay chiến lợi phẩm này. Sau khi nhận chỉ thị, Bộ tư lệnh Quân chủng quyết định lựa chọn Đại đội 4 thuộc Trung đoàn 923 đảm nhận nhiệm vụ đặc biệt. Ngày 22-4-1975, bốn phi công gồm Từ Đễ, Hán Văn Quảng, Hoàng Mai Vượng và Nguyễn Văn Lục được điều động từ sân bay Gia Lâm vào Đà Nẵng để tham gia khóa huấn luyện chuyển loại cấp tốc trên máy bay A-37. Ngay sáng hôm sau, các phi công bắt đầu học lý thuyết, nghiên cứu cấu tạo, tính năng chiến đấu và các trang thiết bị trên máy bay. Khóa huấn luyện diễn ra với tốc độ chưa từng có, chỉ gồm một ngày học lý thuyết và hai ngày rưỡi thực hành bay. Khó khăn lớn nhất là toàn bộ ký hiệu điều khiển trên máy bay đều được ghi bằng tiếng Anh, trong khi các phi công Việt Nam chưa được đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành. Trước tình huống đó, các đồng chí Nguyễn Thành Trung, Trần Văn On và Trần Ngọc Xanh đã nhanh chóng dịch các ký hiệu sang tiếng Việt, ghi chú lại rồi dán trực tiếp lên các vị trí điều khiển để thuận tiện cho việc học tập và sử dụng. Ngày 24-4-1975, hai chiếc A-37 đầu tiên sau khi được đội ngũ kỹ thuật sửa chữa hoàn chỉnh đã được đưa ra bay thử nghiệm. Kết quả đều đạt yêu cầu. Tuy nhiên, khi bắt đầu bước vào giai đoạn thực hành, các phi công tiếp tục đối mặt với khó khăn mới khi cách bố trí thiết bị trên A-37 hoàn toàn khác với những loại máy bay mà họ từng điều khiển trước đó. Để nhanh chóng làm chủ khí tài mới, mọi người tranh thủ học tập bất cứ lúc nào, từ giờ nghỉ đến trước khi đi ngủ. Nhờ tinh thần quyết tâm cao độ, kỹ năng điều khiển máy bay của từng phi công được nâng lên rõ rệt chỉ sau vài ngày ngắn ngủi. Sáng 27-4-1975, khóa huấn luyện chuyển loại đặc biệt hoàn thành. Cùng ngày, toàn phi đội cơ động từ Đà Nẵng vào sân bay Phù Cát. Đến sáng hôm sau, bốn chiếc A-37 tiếp tục bay vào sân bay Thành Sơn để kiểm tra lần cuối trước khi thực hiện nhiệm vụ chiến đấu. Buổi chiều, một chiếc A-37 khác vừa được sửa chữa hoàn chỉnh cũng được bổ sung vào đội hình. Tại sân bay Thành Sơn, Bộ tư lệnh Quân chủng cùng các phi công tiến hành họp bàn kế hoạch tác chiến. Mọi phương án chiến đấu, hiệp đồng đội hình, xác định mục tiêu, xử trí tình huống bất ngờ đều được nghiên cứu kỹ lưỡng. Để bảo đảm bí mật tuyệt đối, toàn phi đội thống nhất không sử dụng vô tuyến điện khi thực hiện nhiệm vụ mà chỉ liên lạc bằng các tín hiệu quy ước. Chính sự chuẩn bị chu đáo, cẩn trọng ấy đã tạo nền tảng vững chắc cho trận đánh lịch sử diễn ra sau đó. Trận tập kích mang tên “Mũi tiến công thứ 6” Khoảng 14 giờ ngày 28-4-1975, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Lê Văn Tri trực tiếp giao nhiệm vụ cho phi đội. Với quyết tâm thực hiện thắng lợi phương châm “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, quyết thắng”, toàn đơn vị bước vào trận đánh với tinh thần trách nhiệm cao nhất. Để giữ bí mật và tạo yếu tố bất ngờ tuyệt đối, phi đội thực hiện nghiêm ba nguyên tắc tác chiến gồm bay theo đúng tuyến đường mà máy bay đối phương vẫn thường sử dụng hằng ngày, duy trì độ cao thấp để tránh bị radar phát hiện và tuyệt đối không liên lạc bằng vô tuyến điện. Do chỉ có Nguyễn Thành Trung và Trần Văn On nắm rõ địa hình khu vực Sài Gòn cũng như vị trí mục tiêu nên toàn phi đội xác định thực hiện phương châm “4 tự”: tự đi, tự tìm, tự đánh và tự trở về căn cứ. Cũng trong buổi giao nhiệm vụ, đơn vị chính thức được đặt tên là Phi đội Quyết Thắng. Đại tá Nguyễn Văn Lục nhớ lại rằng thời điểm ấy, mệnh lệnh “thần tốc” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trở thành động lực thôi thúc toàn đơn vị quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ bằng mọi giá. Đúng 16 giờ 17 phút ngày 28-4-1975, năm chiếc A-37 lần lượt cất cánh từ sân bay Thành Sơn. Nguyễn Thành Trung đảm nhiệm vị trí dẫn đầu đội hình. Theo sau lần lượt là Từ Đễ, Nguyễn Văn Lục, Hoàng Mai Vượng - Trần Văn On và Hán Văn Quảng. Mỗi máy bay mang theo bốn quả bom sẵn sàng chiến đấu. Sau khi xuất kích, đội hình bay men theo đường bờ biển, sau đó vòng phải tại khu vực ngã ba sông Sài Gòn để tiếp cận mục tiêu. Khi còn cách sân bay Tân Sơn Nhất khoảng 20 km, các máy bay bắt đầu giãn cách đội hình từ 600 đến 800 mét và tăng độ cao lên khoảng 2.000 mét. Ngay sau đó, từng chiếc lần lượt bổ nhào tấn công. Những loạt bom chính xác liên tiếp trút xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Tổng cộng 18 quả bom đã đánh trúng các mục tiêu trọng yếu, biến toàn bộ khu vực sân bay thành biển lửa. Những cột khói đen khổng lồ cuồn cuộn bốc cao báo hiệu thành công của trận tập kích. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, toàn phi đội nhanh chóng thoát ly khỏi khu vực chiến đấu và quay trở về sân bay Thành Sơn khi trời bắt đầu nhá nhem tối. Nhớ lại giây phút ấy, ông Nguyễn Văn Lục xúc động kể rằng ngay khi bước xuống máy bay, tất cả anh em phi công đều ôm chầm lấy nhau, hô vang hai tiếng “Chiến thắng”. Tiếng reo vui khiến Tư lệnh Lê Văn Tri phải nhắc nhở giữ nghiêm kỷ luật chiến trường. Thế nhưng, chính ông cũng không giấu được niềm xúc động khi chạy tới ôm hôn từng phi công vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Kết quả trận đánh vượt xa mong đợi. Phi đội Quyết Thắng đã phá hủy 24 máy bay, 39 xe quân sự, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm binh lính đối phương và làm tê liệt hoàn toàn sân bay Tân Sơn Nhất. Chiến công ấy đã góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trọn đời gắn bó với bầu trời Tổ quốc Sau ngày đất nước thống nhất, Nguyễn Văn Lục tiếp tục tham gia nhiệm vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia chống lại chế độ diệt chủng. Trở về nước, ông đảm nhiệm nhiều cương vị trong công tác huấn luyện, đào tạo và xây dựng lực lượng không quân, góp phần bồi dưỡng nhiều thế hệ phi công quân sự cho đất nước. Năm 2002, ông nghỉ hưu với quân hàm Đại tá, trên cương vị Trưởng phòng Quân huấn - Nhà trường thuộc Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân. Trong suốt 37 năm phục vụ trong Quân đội, ông có hơn 30 năm trực tiếp cầm lái, thực hiện trên 1.200 giờ bay an toàn tuyệt đối, bắn rơi ba máy bay Mỹ và nhiều lần được Đảng, Nhà nước trao tặng phần thưởng cao quý, trong đó có ba Huy hiệu Bác Hồ. Ngày nay, người phi công từng tung cánh trên bầu trời trong những thời khắc lịch sử đã trở về với cuộc sống bình dị bên gia đình và con cháu. Tuy nhiên, ký ức về những năm tháng chiến đấu vẫn luôn hiện hữu trong tâm trí ông. Nhắc đến đồng đội, ông không giấu được sự xúc động khi kể về những người đã cùng mình làm nên “Mũi tiến công thứ 6”. Trong số sáu thành viên năm ấy, hiện chỉ còn năm người, bởi phi công Hoàng Mai Vượng đã hy sinh vào ngày 15-7-1975. Theo ông, cứ mỗi dịp tháng Tư hằng năm, những đồng đội còn lại lại gặp nhau để ôn lại truyền thống vẻ vang và tưởng nhớ những người đã ngã xuống vì độc lập, tự do của dân tộc. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng trận không kích chiều 28-4-1975 vẫn là ký ức không thể phai mờ trong cuộc đời Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Lục. Với ông và những người đồng đội năm xưa, đó không chỉ là một trận đánh thành công mà còn là biểu tượng của ý chí quyết chiến, quyết thắng của Không quân nhân dân Việt Nam trong những ngày cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Chiến công ấy sẽ mãi là niềm tự hào của dân tộc và được các thế hệ hôm nay, mai sau trân trọng, gìn giữ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn