Bài viết

NGƯỜI PHỤ NỮ ĐƯA CƠM CHO BÁC HỒ Ở PÁC BÓ LÀ AI?

Phú Thọ18/07/2026Hà Thị Diệu Thùy (Đoàn xã Mai Hạ)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong một video quay lại tiết dạy học cho sinh viên, Nguyễn Thành Nam cho rằng Bác Hồ không thể sống trong hang Pác Bó. Ông ta hình dung một hang đá lạnh lẽo, ẩm thấp thì không thể là nơi ở của một con người trong nhiều tuần lễ. Nhưng lịch sử vẫn mãi là lịch sử, không ai có thể xuyên tạc được. Ở Pác Bó có một người phụ nữ Nùng tên là Hoàng Thị Khìn. Mùa xuân năm 1941, khi mới ngoài mười tuổi, bà được cha giao cùng chị gái nấu cơm, nấu cháo rồi mang lên đầu nguồn suối Giàng, nơi một người mà bà chỉ biết gọi là Già Thu đang ở và làm việc. Mãi sau này bà mới biết, Già Thu chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Lúc còn sống, bà Khìn kể lại, mình sinh ra và lớn lên ở bản Pác Bó. Cha bà là cụ Hoàng Quốc Long, một người sớm tham gia hoạt động cách mạng. Thuở ấy, bà còn nhỏ, chưa hiểu cách mạng là gì. Điều bà biết chỉ là mỗi khi cha dặn, hai chị em bà lại nhóm bếp, nấu cơm cho các "tồng" - những người anh em kết nghĩa của cha.

Cuối năm 1940, không khí trong bản bỗng khác lạ. Các ông Lê Quảng Ba, Hoàng Tô, Hoàng Sâm... thường xuyên lui tới nhà. Có hôm họ ngồi bàn việc đến khuya rồi lại lặng lẽ đi trong màn đêm. Bà nhớ như in những ngày cận Tết Tân Tỵ năm 1941: “Hôm ấy trời rét lắm. Pá bảo chị Hoa và tôi nắm cơm cho các chú mang đi. Các chú đi rồi, pá cứ ngồi bên bếp lửa, vẻ mặt đầy lo lắng. Khi ấy tôi đâu biết các chú vừa sang bên kia biên giới để đón một người rất quan trọng trở về nước”.

Ít ngày sau, cha bà trở về cùng đồng chí Lê Quảng Ba. Hai chị em lại được giao nấu cơm, khi thì nấu cháo ngô, khi thì cháo gạo, gói cẩn thận rồi theo đường rừng mang lên đầu nguồn suối Giàng, nay là suối Lênin.

Con đường từ bản lên hang không dài nhưng cheo leo, lắm dốc đá. Những ngày đầu xuân, núi rừng Cao Bằng vẫn rét cắt da. Hai cô gái người Nùng lặng lẽ gùi cơm băng rừng, vượt suối. Mỗi chuyến đi đều phải thật kín đáo để giữ bí mật tuyệt đối.

Người nhận những gói cơm ấy là một ông già có dáng người thanh mảnh, đôi mắt sáng và nụ cười hiền hậu: “Ông Ké nói tiếng Nùng rất sõi. Giọng ông ấm áp lắm. Ông bảo tên là Thu, dặn chúng tôi cứ gọi là Già Thu”.

Điều khiến bà nhớ mãi không chỉ là sự gần gũi của Già Thu mà còn là cách Người hỏi han bà con trong bản. Ông hỏi mùa màng có tốt không, cuộc sống có đủ ăn không, trẻ con có được học chữ không. Rồi ông ân cần bảo rằng nếu người Tày, Nùng, Mông, Dao... biết đoàn kết, cùng nhau học chữ, cùng nhau làm cách mạng thì sẽ đánh đuổi được thực dân, giành lại độc lập để ai cũng có cuộc sống ấm no.

Về đến nhà, hai chị em ríu rít kể lại từng lời của Già Thu cho cha nghe. Ông Long chỉ mỉm cười, gật đầu rồi bảo các con hãy ghi nhớ lời Già Thu, cùng bà con góp sức làm cách mạng.

Mãi sau này, khi cách mạng thành công, bà Khìn mới biết người mình ngày ngày mang cơm lên tận cửa hang Pác Bó chính là Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.

Sau hòa bình, bà Khìn được tổ chức động viên về huyện, về tỉnh công tác. Nhưng bà xin ở lại bản. Có người hỏi vì sao, bà chỉ cười hiền: "Nếu ai hoạt động cách mạng cũng về huyện, về tỉnh cả thì sau này khách đến Pác Bó, ai sẽ kể chuyện Bác Hồ?".

Giờ đây, cô gái Nùng năm nào đã trở về với tổ tiên. Ngôi nhà sàn bên dòng suối Lênin không còn tiếng kể chuyện của bà nữa. Nhưng ký ức về những ngày đầu xuân năm 1941 vẫn còn đó. Vẫn còn hình ảnh cô gái nhỏ lặng lẽ gùi cơm, mang cháo băng qua rừng núi đến cửa hang Pác Bó cho một người mà bà chỉ biết gọi là Già Thu. Những bước chân âm thầm ấy đã hòa vào lịch sử, để mỗi khi nhắc đến Pác Bó, người ta không chỉ nhớ đến hang đá, dòng suối hay ngọn núi, mà còn nhớ đến tấm lòng son sắt của đồng bào Việt Bắc đã chở che, đùm bọc Bác Hồ trong những ngày đầu Người trở về Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn