Bài viết

Người phụ nữ làm nên huyền thoại Đội quân tóc dài

Vĩnh Long30/10/2026Phan Kim Huệ (Phường Đông Hưng Thuận)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Người phụ nữ làm nên huyền thoại Đội quân tóc dài- Nguyễn Thị Định

Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam, có những người phụ nữ đã trở thành biểu tượng bất khuất của lòng yêu nước và ý chí kiên cường. Họ không chỉ đảm đang, giàu tình yêu thương mà còn có bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Một trong những người phụ nữ tiêu biểu ấy chính là Thiếu tướng Nguyễn Thị Định – người con ưu tú của quê hương Bến Tre, nữ tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, người gắn liền với huyền thoại Đội quân tóc dài trong phong trào Đồng khởi.

Nguyễn Thị Định, tên thường gọi là Ba Định, sinh ngày 15 tháng 3 năm 1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, giàu truyền thống yêu nước. Từ nhỏ, bà đã chứng kiến cảnh quê hương chìm trong ách thống trị của thực dân, nhân dân phải chịu nhiều áp bức, bất công. Những điều mắt thấy, tai nghe đã sớm hun đúc trong bà lòng yêu nước và ý chí đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.

Năm 1936, khi mới 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng, đảm nhận những công việc như giao liên, rải truyền đơn và vận động quần chúng. Tháng 10 năm 1938, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ một cô gái miền quê xứ Dừa, Nguyễn Thị Định từng bước trưởng thành, trở thành người chiến sĩ cách mạng kiên trung.

Con đường hoạt động cách mạng của bà sớm phải trải qua những mất mát đau thương. Năm 1939, chồng bà là đồng chí Nguyễn Văn Bích bị thực dân Pháp bắt và đày ra Côn Đảo. Năm 1940, bà cũng bị địch bắt giam, sau đó bị đày đến nhà tù Bà Rá. Trong cảnh tù đày khắc nghiệt, bà phải chịu nhiều gian khổ, lại nhận tin chồng hy sinh nơi Côn Đảo. Nỗi đau mất chồng, xa con không thể làm người phụ nữ ấy khuất phục. Năm 1943, do sức khỏe suy kiệt, bà được trả tự do và trở về quê nhà trong sự quản thúc của chính quyền thực dân. Đến năm 1944, bà tìm cách liên lạc với tổ chức cách mạng, tiếp tục hoạt động và góp sức vào phong trào đấu tranh tại địa phương.

Tháng Tám năm 1945, bà tham gia phong trào khởi nghĩa giành chính quyền ở Bến Tre. Sau Cách mạng Tháng Tám, khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, bà tiếp tục đảm nhận nhiều nhiệm vụ quan trọng trong phong trào cách mạng tỉnh nhà.

Tháng 3 năm 1946, bà được giao một nhiệm vụ đặc biệt: cùng đoàn đại biểu quân, dân, chính, đảng Khu 8 vượt biển ra miền Bắc để báo cáo tình hình cách mạng miền Nam và xin Trung ương chi viện vũ khí cho chiến trường Nam Bộ. Chuyến đi đầy hiểm nguy giữa biển khơi đã thể hiện lòng dũng cảm, sự mưu trí và tinh thần trách nhiệm của người nữ cán bộ cách mạng. Đây cũng là một dấu mốc đáng nhớ trong cuộc đời hoạt động của bà.

Năm 1947, bà được bầu vào Tỉnh ủy Bến Tre. Năm 1948, bà giữ cương vị Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh. Năm 1951, bà được điều động làm Phó Bí thư, rồi Bí thư Huyện ủy Mỏ Cày, lãnh đạo khôi phục phong trào cách mạng trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt. Nguyễn Thị Định được giao nhiệm vụ ở lại miền Nam hoạt động bí mật. Những năm tháng ấy, bà phải sống trong điều kiện thiếu thốn, thường xuyên đối mặt với sự truy lùng của kẻ thù. Tuy nhiên, nhờ sự che chở, đùm bọc của nhân dân, bà vẫn kiên trì bám địa bàn, giữ vững phong trào cách mạng.

Bước ngoặt lớn trong cuộc đời hoạt động của bà đến vào cuối năm 1959, khi bà được giao tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương và truyền đạt lại cho Tỉnh ủy Bến Tre. Nghị quyết đã mở ra hướng đi mới cho cách mạng miền Nam, chủ trương sử dụng sức mạnh đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang để chống lại chính quyền Mỹ - Diệm.

Ngày 17 tháng 1 năm 1960, phong trào Đồng khởi Bến Tre bùng nổ, mở đầu tại huyện Mỏ Cày, sau đó lan rộng ra nhiều địa phương. Trên cương vị Phó Bí thư Tỉnh ủy, Nguyễn Thị Định là một trong những cán bộ lãnh đạo trực tiếp chỉ đạo phong trào. Bà cùng tập thể lãnh đạo tỉnh vận động nhân dân nổi dậy đấu tranh, phá thế kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ ở nhiều vùng nông thôn.

Điều đặc biệt làm nên dấu ấn của phong trào Đồng khởi Bến Tre chính là sự tham gia mạnh mẽ của phụ nữ. Từ những người mẹ, người chị vốn quen với công việc đồng áng, chăm lo gia đình, họ đã đứng lên đấu tranh bằng lòng yêu nước và sự đoàn kết. Những đoàn phụ nữ mặc áo bà ba, khăn rằn, tay không hoặc mang theo những vật dụng sinh hoạt quen thuộc, tổ chức đấu tranh trực diện, yêu cầu địch không được đàn áp nhân dân, không được bắt bớ, càn quét và phải chấm dứt các hành động khủng bố.

Từ phong trào ấy, hình ảnh Đội quân tóc dài ra đời và trở thành biểu tượng độc đáo của phong trào đấu tranh cách mạng miền Nam. Dưới sự lãnh đạo của những cán bộ phụ nữ tiêu biểu, trong đó có Nguyễn Thị Định, lực lượng phụ nữ đã phát huy sức mạnh đấu tranh chính trị, binh vận và phối hợp với đấu tranh vũ trang, tạo nên phương thức đấu tranh sáng tạo, linh hoạt.

Đội quân tóc dài không phải là một đội quân chiến đấu theo nghĩa thông thường, mà là lực lượng quần chúng phụ nữ đấu tranh chính trị rộng lớn, có tổ chức và tinh thần kỷ luật. Họ đã góp phần làm nên sức mạnh của chiến tranh nhân dân, khiến kẻ thù phải đối mặt với một mặt trận đấu tranh không dễ khuất phục. Từ Bến Tre, phong trào ấy lan rộng ra nhiều tỉnh, thành miền Nam, trở thành dấu son đặc biệt trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc.

Sau thắng lợi của phong trào Đồng khởi, tháng 4 năm 1960, bà được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Năm 1965, bà giữ chức Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam và được giao nhiệm vụ Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Với tài năng tổ chức, khả năng lãnh đạo và sự am hiểu chiến tranh nhân dân, bà đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Ngày 17 tháng 4 năm 1974, bà chính thức được phong quân hàm Thiếu tướng, trở thành nữ tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây không chỉ là niềm tự hào của riêng bà mà còn là niềm tự hào của phụ nữ Việt Nam, minh chứng cho sức mạnh, trí tuệ và bản lĩnh của người phụ nữ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất năm 1975, bà tiếp tục đảm nhận nhiều trọng trách trong Đảng và Nhà nước. Bà từng giữ chức Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đại biểu Quốc hội nhiều khóa và từ năm 1987 đến năm 1992 giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Trên cương vị công tác mới, bà vẫn luôn quan tâm đến đời sống nhân dân, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em và những người có hoàn cảnh khó khăn.

Ngày 26 tháng 8 năm 1992, bà qua đời, để lại niềm tiếc thương sâu sắc trong lòng đồng bào, đồng chí và nhân dân cả nước. Ngày 30 tháng 8 năm 1995, bà được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, ghi nhận những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Cuộc đời Nữ tướng Nguyễn Thị Định là một bản hùng ca đẹp về lòng yêu nước, ý chí kiên cường và khát vọng cống hiến. Từ một cô gái quê nghèo ở Bến Tre, trải qua tù đày, mất mát và bao hiểm nguy, bà đã trở thành người lãnh đạo phong trào cách mạng, người nữ tướng được nhân dân kính trọng và yêu mến.

Ngày nay, nhắc đến Nguyễn Thị Định, chúng ta không chỉ nhớ đến một vị tướng tài ba mà còn nhớ đến hình ảnh người phụ nữ Việt Nam với chiếc áo bà ba, khăn rằn và mái tóc dài, kiên cường đứng lên đấu tranh vì độc lập, tự do. Hình ảnh ấy đã trở thành biểu tượng bất tử của phụ nữ miền Nam trong những năm tháng chiến tranh.

Là những người được sống trong hòa bình, chúng ta càng phải trân trọng những hy sinh của thế hệ đi trước, biết ơn những người đã dành cả cuộc đời cho độc lập, tự do của dân tộc. Đối với thế hệ trẻ và các em học sinh hôm nay, tấm gương của Nữ tướng Nguyễn Thị Định là bài học sâu sắc về lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí vượt khó và trách nhiệm đối với cộng đồng.

Đội quân tóc dài đã trở thành huyền thoại, người nữ tướng năm xưa đã đi xa, nhưng tinh thần Nguyễn Thị Định vẫn còn sống mãi. Tên tuổi và sự nghiệp của bà sẽ mãi là niềm tự hào của quê hương Bến Tre, của phụ nữ Việt Nam và của cả dân tộc. Ngọn lửa yêu nước mà bà thắp lên sẽ tiếp tục được các thế hệ hôm nay gìn giữ, tiếp nối và lan tỏa trên hành trình xây dựng một Việt Nam hòa bình, giàu đẹp và phát triển.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn