NGƯỜI PHỤ NỮ THÁI BÌNH GÁNH GẠO TIẾP TẾ SUỐT MƯỜI NĂM
Suốt mười năm chiến tranh, một người phụ nữ Thái Bình lặng lẽ gánh gạo tiếp tế cho tiền tuyến, đi qua bom đạn, đói khát và mất mát gia đình, để giữ cho dòng lương thực không bao giờ đứt.
Mẹ tôi chưa bao giờ cầm súng.
Nhưng đôi vai mẹ đã cõng chiến tranh suốt mười năm ròng rã.
Những năm đó, Thái Bình là hậu phương lớn. Gạo của quê tôi đi ra tiền tuyến nhiều đến mức người ta bảo: “Một hạt lúa Thái Bình cũng mang mùi khói súng.” Mẹ tôi là một trong những người gánh những hạt lúa ấy đi xa.
Năm 1958, mẹ mới ngoài hai mươi. Chồng nhập ngũ. Ở nhà, mẹ vừa nuôi con nhỏ, vừa cấy lúa, vừa tham gia đội dân công gánh gạo. Mỗi chuyến đi kéo dài nhiều ngày, đi bộ là chính, qua đê, qua làng, qua những đoạn đường thường xuyên bị đánh phá.
Gạo được đóng vào bao, mỗi gánh từ ba mươi đến bốn mươi ký. Mẹ tôi gầy, lưng nhỏ, nhưng không ai được phép kêu nặng. Gạo nặng không bằng trách nhiệm.
Cao trào đầu tiên của đời mẹ là mùa mưa bom năm 1965. Địch đánh vào kho lương. Cả đội phải di chuyển ban đêm. Đang đi thì bom nổ gần. Đất văng đầy mặt. Mẹ ngã, gạo đổ. Nhưng mẹ không bỏ bao nào. Mẹ kể: “Bỏ gạo là có lỗi với bộ đội.”
Có chuyến đi, mẹ vừa gánh gạo vừa khóc thầm. Ở nhà, con sốt. Nhưng mẹ không quay về. Mẹ bảo: “Bộ đội ngoài kia còn khổ hơn.”
Mười năm ấy, mẹ đi không nhớ bao nhiêu chuyến. Vai chai cứng. Lưng cong xuống. Có năm mất mùa, nhà đói, nhưng gạo vẫn phải đi trước. Có năm nhận giấy báo tử của chồng, mẹ vẫn gánh gạo. Không ai ép. Nhưng mẹ đi.
Ngày hòa bình, mẹ trở về đúng nghĩa: trở về với ruộng đồng, với tuổi già đến sớm. Đôi vai mẹ đã lệch. Lưng mẹ không thẳng lại được nữa.
Bây giờ, mỗi lần nhìn bao gạo trong nhà, tôi hiểu: một phần hòa bình này được gánh lên từ đôi vai những người phụ nữ như mẹ tôi.


