Người ta nói quá khứ của cha ông đã qua đi, nhưng với những người trẻ sẵn lòng lắng nghe, quá khứ vẫn luôn hiện diện.
Cựu chiến binh Phùng Thế Duy, quê ở xã Hòa Xá (Ứng Hòa, Hà Tây cũ), nhập ngũ năm 1968. Ông là xạ thủ B41, thuộc tiểu đội hỏa lực, lực lượng vũ trang mặt trận miền nam Tây Nguyên, từng chiến đấu ở các mặt trận khốc liệt, nhiều lần đối diện tử thần trong gang tấc. Ông được trao tặng nhiều Huân, Huy chương Kháng chiến và danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.

Những người lính năm xưa, sau khi gác lại khẩu súng, rời xa chiến trường, họ trở về sống lặng lẽ trong căn nhà nhỏ giữa thời bình. Các ông ít khi nhắc lại quá khứ, càng hiếm khi chủ động kể về một thời bom đạn tưởng chừng chỉ còn trong sử sách. Nay, cũng là lần đầu tiên họ ngồi lâu đến vậy bên các cháu – và mở lòng, kể ra những điều tưởng đã chôn sâu mãi mãi trong ký ức.
Cựu chiến binh Phùng Thế Duy, quê ở xã Hòa Xá (Ứng Hòa, Hà Tây cũ), nhập ngũ năm 1968. Ông là xạ thủ B41, thuộc tiểu đội hỏa lực, lực lượng vũ trang mặt trận miền nam Tây Nguyên, từng chiến đấu ở các mặt trận khốc liệt, nhiều lần đối diện tử thần trong gang tấc. Ông được trao tặng nhiều Huân, Huy chương Kháng chiến và danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.
Trong căn nhà nhỏ nép mình giữa con ngõ yên ả, ông Phùng Thế Duy cẩn thận sắp xếp những chiếc bằng khen, những kỷ vật thời chiến trên chiếc bàn trà. Mỗi món đồ, mỗi tấm bằng khen là một lát cắt ký ức mà ông gìn giữ bấy lâu.
Ngày 13/6/1969, tiểu đoàn của ông Duy nhận nhiệm vụ đánh quấy rối tại khu vực đèo Mang Yang – khu vực huyết mạch trên quốc lộ 19. Đơn vị len lỏi giữa địa hình hiểm trở để phục kích đoàn xe địch. Trạm trinh sát thông báo: Đoàn xe kéo dài gần 300 chiếc, gồm cả xe chở lính, xe tăng M-113, xe chở vũ khí, đạn dược, và có cả xe chở dân thường được cài răng lược để ngăn ta tấn công.
Theo đúng kế hoạch, ông Duy cùng đồng đội đợi lệnh từ đài quan sát—ba tiếng “cạch” làm tín hiệu khai hỏa. Ông bắn B41 vào đoàn xe, rồi cả tổ nhanh chóng rút quân về điểm tập kết.
Đoàn xe địch lập tức nã pháo dữ dội.
Một quả pháo nổ gần, để lại cho ông di chứng suốt đời.
Ông Duy kể, hôm ấy ông cùng đánh trận với ông Lung, ông Đính—những người đồng đội thân thiết suốt một thời tuổi trẻ. Giờ thì không còn ai nữa.
Vết sẹo trên chân ông đã trở thành dấu tích cuối cùng còn sót lại của ký ức ấy — về những người đồng đội sát cánh bên nhau trong đạn bom, sinh tử.
Gia Lai, tháng 4 năm 1970. Giữa cao điểm chiến sự tại chiến trường Tây Nguyên, ông Duy cùng đồng đội là ông Quý, trung đội trưởng, mũi trưởng mũi tấn công – nhận nhiệm vụ đánh phá một cứ điểm hậu cần của địch tại ấp Suối Đôi, dọc đường 19, hướng từ Pleiku đi An Khê.
Theo lời kể của ông Duy, tổ chiến đấu hai người nhận chỉ thị từ tình báo: tiêu diệt hai mục tiêu – một lô cốt và một kho gạo tiếp tế cho quân địch.
“Ông mang quả thủ pháo 5kg, dài gần một mét. Nhiệm vụ là áp sát lô cốt, đặt thuốc nổ vào chân công sự, giật chốt xong rút. Rồi chuyển sang kho gạo – mà hóa ra là kho xăng đấy. Xong nhiệm vụ là rút”. Ông Duy nhớ lại, ánh mắt can trường nhìn về trận đánh đã trôi qua hàng chục năm.
Trận địa khi ấy chỉ cách địch khoảng 30–40 mét. Không ai ngờ, kho gạo trong báo cáo trinh sát lại là kho xăng. Thủ pháo vừa ném vào, ngọn lửa bùng lên dữ dội, hai cột lửa cao ngút trời như muốn nuốt chửng cả núi rừng.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Đồng đội hét: "Người cháy rồi! Lăn đi!"
“Thế là cả hai ông lăn. Lăn mấy vòng liền thì ngọn lửa mới chịu tắt”. Lửa bám vào chân trái, tay trái, rồi liếm lên đến toàn bộ lưng. Rát bỏng, đau đớn.
Dù bị bỏng toàn thân, hai người vẫn phải rút về điểm tập kết qua một bãi cỏ tranh. Rừng núi Tây Nguyên khi ấy nhá nhem, dày đặc, đường rút lui không rõ ràng, không thể liên lạc được với đơn vị.
Họ lạc đường.
Trong suốt một tuần lang thang giữa núi rừng khắc nghiệt, không nước sạch, không thuốc men, từng bước đi là từng lần da thịt như bị xé toạc – vì vết bỏng rỉ dịch, sưng tấy và nhiễm trùng nặng.
“Từ lúc bị thương tới lúc đi bộ về điểm tập kết mất hẳn 1 tuần. Ông vẫn phải khoác áo, cắn răng mà bước tiếp”. Ông Duy nhớ lại.
Khi về đến nơi, ông giật mình nhìn vết bỏng của ông Quý thốt lên: “Chết rồi, có dòi rồi!
7 ngày ở trong gian nhà lá của trạm xá giữa đại ngàn, là 7 ngày hằn sâu vào trí nhớ.
Trong điều kiện rừng núi nóng ẩm, thiếu thuốc sát trùng, vết thương dễ nhiễm trùng vì phải tiếp xúc với lá cây mục, đất ẩm và cả ruồi nhặng. Bác sĩ phải gắp từng con dòi từ mô thịt hoại tử trên lưng ông Quý. Còn ông Duy, lưng phồng rộp một ụ bỏng lớn, đau rát đến mức không thể nằm ngửa suốt nhiều ngày.
Những ký ức ấy in hằn đến tận bây giờ. Nhưng người đồng đội cùng ông đi qua tháng ngày sinh tử ấy – giờ đây cũng đã không còn nữa...



