Người thắp lửa giữa đêm trường nô lệ (1)
Giữa những năm tháng đen tối dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, cuộc đời ngắn ngủi như vệt sao băng của Phan Thanh (1908 – 1939) đã để lại ánh sáng rực rỡ trên bầu trời yêu nước. Ra đi khi vừa tròn 31 tuổi, người con ưu tú của đất Quảng Nam không chỉ là một chính khách xuất sắc, một nhà báo sắc sảo mà còn là hiện thân của một trí thức nhiệt huyết, luôn đập cùng một nhịp với nỗi đau của nhân dân lao khổ.
Hành trình gieo chữ và truyền bá Quốc ngữ
Rời quê hương ra Hà Nội lập nghiệp, Phan Thanh chọn nghề giáo tại trường tư thục Thăng Long để gieo chữ và thắp lên ngọn lửa tự tôn dân tộc cho thế hệ trẻ. Thấu hiểu nỗi đau của nạn thất học, ông cùng các đồng chí vận động thành lập Hội Truyền bá Quốc ngữ với tôn chỉ: mang ánh sáng tri thức đến tận những túp lều tranh, những xưởng máy nghèo nàn. Ông đã đi dọc chiều dài đất nước, dùng tài hùng biện để thức tỉnh lòng dân, biến các lớp học đơn sơ thành cái nôi của khát vọng tự do.
Ngòi bút sắc bén chống áp bức trên mặt báo
Phan Thanh chọn dòng mực trên trang giấy làm vũ khí chiến đấu. Từ thuở thiếu niên với bút danh Trạc Anh, ông đã viết những bài báo đanh thép bằng tiếng Pháp để tố cáo sự áp bức độc đoán của thực dân. Khi phong trào Mặt trận Dân chủ bùng nổ, ngòi bút của ông xuất hiện dày đặc trên các tờ báo tiến bộ (Demain, Notre Voix, Le Travail...). Là "chiếc cầu nối" giữa những người Xã hội, Cộng sản và dân chúng, ông luôn dùng báo chí để bảo vệ người yếu thế và đòi quyền sống cho dân nghèo.
Người đại biểu của nhân dân nơi nghị trường
Trúng cử vào Viện Dân biểu Trung Kỳ ở tuổi 29 với số phiếu cao nhất, Phan Thanh mang theo vạn niềm tin của người dân vào chốn nghị trường khốc liệt. Ông biến diễn đàn này thành nơi chất vấn kẻ lạm quyền, đòi giảm thuế và đòi tự do ngôn luận. Tại Đại hội đồng Kinh tế – Tài chính Đông Dương, bằng tiếng Pháp chuẩn mực và tài hùng biện xuất chúng, ông khiến thực dân lão làng cũng phải kiêng nể khi đưa ra những thỉnh cầu nhân văn: đòi phá bỏ nhà ngục ghê tởm để thay bằng các xưởng làm việc nhân đạo.
Dư âm cuộc đời và giá trị bất tử cho thế hệ mai sau
Phan Thanh ngã xuống vào ngày 1 tháng 5 năm 1939, đúng ngày Quốc tế Lao động – ngày hội của giai cấp cần lao mà ông cả đời phụng sự. Sự ra đi ở tuổi 31 để lại niềm tiếc thương vô hạn, nhưng cuộc đời ông đã kịp hóa thành đốm lửa mồi cho ngọn đuốc Cách mạng tháng Tám vĩ đại về sau. Ông để lại bài học vô giá về nhân cách trí thức: không quay lưng với nhân dân, không gục ngã trước cường quyền.
Đứng trước sự hy sinh cao cả ấy, vần thơ tiễn biệt như tạc dòng tên ông vào tâm khảm người ở lại:
"Thương đấng anh tài tuổi sớm xanh,
Nợ nước ơn dân chí chưa thành.
Nghị trường sấm dậy lời oanh liệt
Trang sách đèn khuya chữ tinh anh.
Thân tàn gửi lại lòng đất mẹ,
Hồn phách bay theo gió dặm trình.
Trăm năm bia đá dòng tên tạc
Sống mãi cùng dân, sử lưu danh."
Phan Thanh đã ra đi, nhưng ánh sáng từ trái tim yêu nước, thương dân của ông vẫn mãi tỏa rạng cùng non sông đất nước, vẫn luôn thắp sáng con đường của thanh niên Việt Nam tiến lên phía trước, cống hiến cho đất nước và trở thành người cộng sản thực thụ


