Người thầy dạy bốn lớp trong một ngày ở Mù Cả
Năm 1959, thầy giáo 22 tuổi Nguyễn Văn Bôn tình nguyện đến xã biên giới Mù Cả, nơi hơn 500 người Hà Nhì chưa biết chữ. Ông học tiếng địa phương, dựng trường nội trú và mỗi ngày dạy bốn lớp, đưa Mù Cả từ một xã yếu trở thành đơn vị xóa mù chữ tiên tiến.
Đầu năm 1959, Nguyễn Văn Bôn đứng trước một lựa chọn có thể thay đổi cả cuộc đời mình.
Ông vừa tốt nghiệp Trường Sư phạm Trung ương, đang dạy tại một trường cấp một ở Thái Bình và được chuẩn bị giao nhiệm vụ quản lý. Ở quê nhà, một mối tình cũng vừa chớm nở. Nếu ở lại miền xuôi, trước mắt người thầy 22 tuổi là một cuộc sống tương đối ổn định.
Đúng lúc ấy, Bộ Giáo dục kêu gọi giáo viên tình nguyện lên Tây Bắc.
Nguyễn Văn Bôn viết đơn, xin được đến nơi khó khăn nhất.
Ông cùng 18 giáo viên trẻ lên đường. Sau chặng đi nhờ xe tải, mỗi người được phát một chiếc chăn chiên, một áo bông và một lọ thuốc ký ninh phòng sốt rét. Từ thị trấn Lai Châu, họ tiếp tục đi bộ nhiều ngày trên những con đường mòn dốc ngược để đến Mường Tè.
Địa điểm Nguyễn Văn Bôn nhận công tác là xã Mù Cả, một vùng biên giới nằm ở độ cao khoảng 1.500 mét so với mực nước biển. Nơi đây có hơn 500 người, phần lớn là đồng bào Hà Nhì.
Khi người thầy miền xuôi đặt chân đến, chưa có một người dân nào trong xã biết đọc, biết viết tiếng phổ thông.
Trường học gần như phải bắt đầu từ con số không.
Không có sẵn lớp học đúng nghĩa, không đủ bàn ghế, sách vở hay đồ dùng dạy học. Trẻ em đến tuổi học vẫn theo cha mẹ lên nương hoặc chăn gia súc. Nhà của các em nằm rải rác ở những bản xa; mỗi lần đến lớp phải đi bộ qua những con đường núi dài và hiểm trở.
Nhiều em đi học được vài ngày rồi bỏ.
Nguyễn Văn Bôn đến từng nhà vận động. Nhưng ông sớm nhận ra trở ngại đầu tiên: thầy và dân bản không nói được ngôn ngữ của nhau. Trong khoảng thời gian đầu, xã phải tìm một người biết cả tiếng Hà Nhì, tiếng Thái và tiếng phổ thông để giúp phiên dịch.
Người thầy trẻ không muốn phụ thuộc mãi vào người khác. Ông tự lập kế hoạch học tiếng Hà Nhì, ghi nhớ từng từ trong những lần trò chuyện và sinh hoạt cùng người dân. Khi có thể giao tiếp trực tiếp, khoảng cách giữa thầy giáo miền xuôi và đồng bào dần được thu hẹp.
Một khó khăn khác là chỗ ăn ở cho học sinh.
Đường từ nhà đến trường quá xa khiến nhiều em không thể đi về mỗi ngày. Nguyễn Văn Bôn cùng cán bộ xã vận động người dân các bản góp công, góp vật liệu dựng nơi ăn ở cho học sinh ngay cạnh trường.
Một mô hình trường nội trú do nhân dân cùng nuôi dưỡng dần hình thành. Nhờ có chỗ ở, học sinh không còn phải vượt đường núi mỗi ngày và sĩ số lớp bắt đầu ổn định.
Nhưng Nguyễn Văn Bôn không chỉ muốn trẻ em biết chữ.
Ông nhận thấy những người trưởng thành cũng cần được học. Nếu cha mẹ không hiểu việc học có ích gì, họ khó có thể kiên trì cho con đến lớp. Hơn nữa, người lớn biết chữ sẽ có khả năng tiếp nhận những hướng dẫn về sản xuất, y tế và chủ trương của chính quyền.
Người thầy trẻ đề nghị mở các lớp Bình dân học vụ cho nhiều nhóm khác nhau.
Lịch làm việc của ông bắt đầu từ sáng sớm. Lớp đầu tiên dành cho những người chuẩn bị đi cày. Đến 7 giờ, ông chuyển sang dạy học sinh nhỏ tuổi và làm việc đến trưa. Khoảng 14 giờ, ông dạy một lớp gồm những người được lựa chọn để trở thành giáo viên Bình dân học vụ tại các bản. Đến 19 giờ, khi phụ nữ đã trở về từ nương rẫy, lớp học thứ tư mới bắt đầu.
Trong một ngày, Nguyễn Văn Bôn đứng lớp bốn lần, dành cho bốn nhóm học viên có độ tuổi và công việc khác nhau.
Có người không đến được lớp vì còn phải chăn trâu. Ông tìm cách đưa chữ đến tận nơi làm việc của họ. Theo những tư liệu giáo dục sau này, chữ được viết lên lưng trâu để người chăn gia súc có thể học ngay ngoài đồng.
Việc dạy học cũng được gắn với sinh hoạt và lao động. Học sinh cùng thầy làm nương, chăn nuôi và gây quỹ mua đồ dùng học tập. Những hoạt động múa hát, diễn kịch được tổ chức để ngôi trường trở thành nơi vui chơi và sinh hoạt chung, chứ không chỉ là căn phòng học chữ.
Nguyễn Văn Bôn vừa dạy tiếng phổ thông, vừa hướng dẫn vệ sinh, sản xuất và vận động người dân từ bỏ những tập tục không còn phù hợp. Người thầy không áp đặt mà kiên trì giải thích, dùng những kết quả cụ thể để tạo lòng tin.
Từ một xã còn nhiều khó khăn, Mù Cả dần hoàn thành việc thanh toán nạn mù chữ và trở thành xã tiên tiến của châu Mường Tè.
Những học viên do Nguyễn Văn Bôn đào tạo tiếp tục trở về các bản mở lớp. Nhờ vậy, công việc xóa mù chữ không còn phụ thuộc vào một người thầy duy nhất. Mỗi người biết chữ lại có thể dạy thêm nhiều người khác.
Trong năm năm liên tiếp, Nguyễn Văn Bôn được bầu là chiến sĩ thi đua của Khu tự trị Thái–Mèo. Ông được tặng Huân chương Lao động hạng Ba.
Ngày 3 tháng 6 năm 1962, khi mới 25 tuổi, Nguyễn Văn Bôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Ông được ghi nhận là nhà giáo phổ thông đầu tiên nhận danh hiệu cao quý này.
Nhưng phần thưởng đặc biệt nhất có lẽ không nằm trên tấm huân chương.
Nhiều năm sau, ở Mù Cả vẫn lưu truyền những địa danh như “suối Thầy giáo” và “núi ông Bôn”. Đó là cách đồng bào Hà Nhì ghi nhớ người thầy miền xuôi từng đi bộ vượt núi đến sống cùng họ, học tiếng của họ rồi giúp cả một vùng đất học tiếng phổ thông.
Nguyễn Văn Bôn không đến Mù Cả với một ngôi trường đã xây sẵn.
Ông đến với một chiếc chăn, một áo bông, một lọ thuốc ký ninh và lời tự nguyện nhận nơi khó khăn nhất. Từ những gì ít ỏi ấy, ông cùng đồng bào dựng nên lớp học, chỗ ở cho học sinh và một đội ngũ giáo viên ngay tại các bản.
Lịch sử giáo dục ở Mù Cả vì thế không bắt đầu bằng tiếng trống trường.
Nó bắt đầu bằng bước chân của một người thầy 22 tuổi trên con đường núi, và bằng bốn lớp học được thắp sáng lần lượt từ sáng sớm đến tối khuya.



