Bài viết

Người thầy mang ánh sáng tri thức trở về đại ngàn

Đắk Lắk17/07/2026Nguyen Thuy Trang (Đoàn phường Ea Kao)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Có những người bước vào lịch sử bằng những chiến công trên chiến trường. Cũng có những người lặng lẽ góp phần làm nên lịch sử bằng cây bút, cuốn sách và khát vọng khai mở trí tuệ cho cả một vùng đất.

Đối với Tây Nguyên, Y Ngông Niê Kdăm là một con người như thế.

Sinh năm 1922 trong một gia đình người Êđê ở Buôn Ma Thuột, Y Ngông lớn lên khi vùng đất Tây Nguyên vẫn còn chìm trong ách cai trị của thực dân. Tuổi thơ của ông chứng kiến cuộc sống nhiều thiếu thốn của đồng bào các dân tộc. Cơ hội được học hành đối với một thanh niên người Êđê lúc bấy giờ là điều vô cùng hiếm hoi. Chính vì vậy, khi được học tại Trường Trung cấp Y khoa ở Sài Gòn, ông luôn ý thức rằng tri thức không chỉ giúp thay đổi cuộc đời một con người mà còn có thể thay đổi tương lai của cả cộng đồng.

Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám bùng nổ.

Đó cũng là năm chàng thanh niên người Êđê quyết định đi theo Việt Minh. Lý tưởng độc lập dân tộc đã đưa ông từ con đường của một người làm nghề y trở thành người hoạt động cách mạng. Theo nhiều tư liệu, Y Ngông Niê Kdăm tham gia Việt Minh ngay từ năm 1945 và nhanh chóng trở thành một trong những trí thức tiêu biểu của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên tham gia chính quyền cách mạng non trẻ.

Chỉ một năm sau, nhân dân tín nhiệm bầu ông làm đại biểu Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Khi ấy ông mới ngoài hai mươi tuổi.

Trong hội trường Ba Đình lịch sử, giữa những đại biểu đến từ khắp mọi miền đất nước, có một đại biểu trẻ người Êđê mang theo khát vọng rất giản dị: đồng bào Tây Nguyên cũng phải được học chữ, được chữa bệnh và được sống trong một đất nước độc lập.

Từ Quốc hội khóa I năm 1946 cho đến Quốc hội khóa IX năm 1997, ông liên tục được nhân dân tín nhiệm bầu làm đại biểu Quốc hội. Hơn nửa thế kỷ đại diện cho cử tri là một dấu ấn đặc biệt trong lịch sử Quốc hội Việt Nam.

Những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến cuối năm 1946 là khoảng thời gian không thể quên trong cuộc đời ông.

Nhà văn Bùi Hiển đã ghi lại trong nhật ký những giờ phút Hà Nội bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong những người tham gia công tác tại thời điểm ấy có bác sĩ Y Ngông Niê Kdăm – người trí thức trẻ đến từ Tây Nguyên. Những dòng hồi ký sau này được Báo Đắk Lắk công bố đã góp thêm một lát cắt chân thực về sự hiện diện của người con Êđê trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến trường kỳ.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước tạm thời chia cắt.

Nhiều cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc.

Y Ngông Niê Kdăm cũng tiếp tục nhận nhiệm vụ mới.

Nếu chiến tranh cần những người cầm súng ngoài mặt trận thì hậu phương cũng cần những người vun đắp cho tương lai. Ông được giao tham gia đào tạo, chăm sóc và giáo dục học sinh miền Nam tập kết. Tại Trường Cán bộ dân tộc thiểu số Trung ương rồi sau đó ở Khu giáo học xá Quế Lâm (Trung Quốc), ông cùng nhiều thầy cô dành trọn tâm huyết để nuôi dưỡng, dạy dỗ hàng nghìn học sinh miền Nam. Chính từ những mái trường ấy, nhiều thế hệ cán bộ sau này đã trở về phục vụ công cuộc giải phóng miền Nam và xây dựng đất nước.

Những người từng công tác với ông kể rằng, Y Ngông luôn xem mỗi học sinh như con em của mình.

Đối với các em nhỏ xa quê, ông không chỉ là người thầy mà còn là chỗ dựa tinh thần. Ông hiểu rằng chiến tranh rồi sẽ kết thúc, nhưng đất nước sau hòa bình cần biết bao bác sĩ, kỹ sư, giáo viên và cán bộ được đào tạo bài bản.

Chính vì thế, gieo chữ cũng là một cách đánh giặc.

Ngày đất nước thống nhất năm 1975 mở ra một hành trình mới.

Sau thời gian công tác ở Trung ương với cương vị Thứ trưởng Bộ Giáo dục, ông trở về Đắk Lắk đảm nhiệm nhiều trọng trách như Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh rồi Bí thư Tỉnh ủy. Dù ở cương vị nào, giáo dục vẫn luôn là điều ông trăn trở nhất.

Năm 1977, từ những đề xuất và nỗ lực của lãnh đạo địa phương cùng các bộ, ngành, Trường Đại học Tây Nguyên được thành lập. Đây là cơ sở giáo dục đại học đầu tiên của khu vực Tây Nguyên, mở ra cơ hội đào tạo nguồn nhân lực ngay tại vùng đất đại ngàn. Cùng thời gian đó, Trường Nghiệp vụ Văn hóa – Thông tin cũng được hình thành, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ văn hóa cho khu vực. Những quyết sách ấy thể hiện tầm nhìn của những người lãnh đạo luôn đặt giáo dục và văn hóa ở vị trí trung tâm của sự phát triển.

Những người từng làm việc với Y Ngông Niê Kdăm nhớ về ông như một người lãnh đạo giản dị.

Ông thường dành thời gian đến trường học, gặp gỡ giáo viên, lắng nghe tâm tư của học sinh. Với ông, xây thêm một lớp học nơi vùng sâu đôi khi còn quan trọng hơn xây một công trình lớn ở đô thị. Bởi mỗi lớp học được mở ra là thêm một cơ hội để trẻ em các buôn làng thay đổi cuộc đời bằng tri thức.

Đến cuối đời, ông vẫn đau đáu với sự nghiệp giáo dục.

Sau khi ông qua đời năm 2001, nhiều trường học ở Đắk Lắk được mang tên Y Ngông Niê Kdăm. Gia đình ông còn thành lập Quỹ học bổng Y Ngông Niê Kdăm để tiếp tục giúp đỡ học sinh nghèo vượt khó. Những suất học bổng ấy như tiếp nối tâm nguyện của người thầy đã dành cả cuộc đời cho sự nghiệp trồng người.

Ngày nay, khi nhắc đến Y Ngông Niê Kdăm, nhiều người nhớ đến ông với nhiều danh xưng: bác sĩ, nhà giáo, nhà lãnh đạo, đại biểu Quốc hội, người con ưu tú của dân tộc Êđê. Nhưng trên tất cả, ông được nhớ đến như một người đã dành trọn cuộc đời để kết nối tri thức với đại ngàn.

Trong những năm tháng chiến tranh, ông góp phần đào tạo lớp người sẽ trở về xây dựng đất nước. Trong những năm hòa bình, ông tiếp tục đặt nền móng cho sự phát triển giáo dục của Tây Nguyên. Hành trình ấy không có những trận đánh vang dội, nhưng lại để lại một di sản bền vững: những lớp học sáng đèn, những thế hệ học sinh trưởng thành và niềm tin rằng tri thức luôn là sức mạnh đưa con người đến tương lai.

Đó cũng chính là giá trị lớn nhất mà cuộc đời Nhà giáo Nhân dân Y Ngông Niê Kdăm để lại cho quê hương Đắk Lắk và cho các thế hệ hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn