NGƯỜI THẦY THUỐC TRONG CHIẾN TRANH: CỨU NGƯỜI GIỮA RANH GIỚI SINH TỬ
Rạng sáng 22/12/1972, Bệnh viện Bạch Mai – cơ sở y tế lớn nhất miền Bắc – trở thành mục tiêu của những đợt ném bom B-52 hủy diệt. Giữa đổ nát và khói lửa, các y, bác sĩ, điều dưỡng và nhân viên bệnh viện vẫn bám trụ, cứu chữa người bệnh bằng đôi tay trần và lòng quả cảm. 28 con người đã ngã xuống, phần lớn là những thầy thuốc trẻ tuổi, khi tay vẫn còn đang chăm sóc bệnh nhân. Câu chuyện Bạch Mai năm 1972 là minh chứng bi tráng cho hình ảnh người thầy thuốc trong chiến tranh – cứu người giữa ranh
Rạng sáng 22/12/1972, hàng loạt trận bom đạn từ B-52 đã trút xuống bệnh viện Bạch Mai khiến 28 người thiệt mạng...
Thời điểm ấy, có người vẫn còn nghĩ rằng Hoa Kỳ sẽ không ném bom xuống Bạch Mai, vì như thế là vi phạm tội ác chiến tranh, có thể B-52 sẽ thả bom gần đó để cảnh cáo... Nhưng, hoá ra đây lại là một cuộc thảm sát cố tình, hơn 100 quả bom trong 3 - 4 đợt bom liên tiếp nhắm vào bệnh viện Bạch Mai, không có sự nhầm lẫn nào lại như thế cả....
Giáo sư Đỗ Doãn Đại, khi ấy là Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai kể về giai đoạn khốc liệt đó vẫn vẹn nguyên từng chi tiết, nhớ tên từng con người.
Theo ký ức của vị Giáo sư 97 tuổi, phía trong không ngừng la hét, gào khóc, phía ngoài cũng nước mắt lưng tròng. Có những chỗ không thể dùng máy móc để đào bới, các anh em bệnh viện dùng tay không để đào, bới, bê từng cục gạch, khối bê tông ra ngoài để nhanh chóng tiếp cận được vào trong. Trong 5 ngày 4 đêm ấy, những đau thương cứ thế ập tới dồn dập khiến những người cứng rắn nhất cũng đau xé tâm can. Nữ bác sĩ trẻ mới ra trường Đinh Thị Thúy lúc cứu ra người còn thoi thóp gọi “Thầy Đại ơi” nhưng rồi lịm đi trong hôn mê và ra đi.
“Hình ảnh 3 cô y tá Đặng Thị Hồng Liên, Trần Thị Tuyết và Đỗ Thị Ngọc Thạch (khoa Da liễu) lúc tìm thấy trong tình trạng 3 thi thể ôm chặt lấy nhau khiến chúng tôi nghẹn ngào. Muốn tách họ ra, chúng tôi phải dùng dây thừng buộc vào từng người kéo dần rời nhau ra, không còn cách nào khác”, Giáo sư nấc nghẹn.
Nhưng đau đớn tâm can nhất là hình ảnh bác sĩ Nguyễn Thị Kim Hương bị nằm kẹt dưới tảng bê tông rất to chắn lối ra vào. Không thể nào vòng sâu hơn nữa để mở đường vào cứu người khác, Giáo sư Đại quyết định cho anh em tháo rời khớp thi hài ra mang ra ngoài. “Một quyết định đau lòng nhưng phải gạt nước mắt thực hiện. Chỉ có mỗi cách đó mới kéo được tảng bê tông và có lối vào sâu bên trong”, Giáo sư đau xót nói.
Bà Nguyễn Thị Cúc nhớ như in khoảnh khắc đó. Từng phần thi thể của bà Kim Hương được quấn bọc cẩn thận, đưa về hành lang khoa Thận để sinh viên Y6 khâu cho nguyên vẹn hình hài.
Những nữ y, bác sĩ trẻ tuổi đời phơi phới, người còn đang chờ tới ngày hôn lễ, người vừa kết hôn được vài tháng cũng đã chôn vùi thanh xuân sau trận bom ác liệt.
“Đau thương nhất là có 3 cô y tá Nguyễn Thị Khuyến, Nguyễn Thị Phụng, Nguyễn Thị Thạch vừa gửi thiếp mời đám cưới sau ngày Noel. Trên tay các cô vẫn còn cầm những ống nghe và đo nhiệt độ chăm sóc cho bệnh nhân. Chúng tôi òa lên khóc khi thấy chị Trần Thị Duyên đang mang thai con 3 tháng tuổi không còn nữa.
Chị Mai Thị Tuyết là thợ điện, chồng đi B để lại 3 đứa con, mẹ già ở nhà nhưng đã bị điện giật không qua khỏi khi làm nhiệm vụ khẩn cấp kéo lại đường dây điện ngay trong đêm. Bác sĩ Nguyễn Thị Giỏi – giáo viên Trường Đại học Y vừa tổ chức đám cưới đã mãi mãi không gặp lại chồng khi anh chỉ còn 1 tuần nữa vào nam chiến đấu”, bà Cúc gạt nước mắt.
Ông Đỗ Xuân Nhị (sinh năm 1942, xã Hoàng Xuyên, huyện Hoàng Hóa, tỉnh Thanh Hóa) làm bảo vệ ở cổng trước may mắn chạy kịp xuống hầm trú ẩn không nguôi ngoai được khi chứng kiến nỗi đau chia lìa của bố con y tá ông Nguyễn Loan.
Khi đó, con gái ông là y tá Nguyễn Liên bị kẹt dưới tầng hầm, không ngừng kêu than “Bố ơi, bố cứu con với!”. Tiếng gọi cứ thưa dần xong lịm đi. Trên đống đổ nát, ông bố bất lực than khóc. Lúc tiếp cận được y tá Nguyễn Liên, cơ thể vẫn còn ấm. “Mọi người chủ yếu bị chết ngạt”, ông Nhị nghẹn lời.
Lãnh đạo Quận ủy Đống Đa dẫn đầu đoàn cứu trợ hỗ trợ Bệnh viện Bạch Mai trong suốt 5 ngày tìm kiếm cho tới khi Khâm Thiên bị tàn phá nặng nề họ mới rời đi. Gần 5 ngày sau (27/12), người cuối cùng mới được đưa lên khỏi hầm là nhân viên đánh máy ở khoa Da liễu Vũ Thị Thảo và bảo vệ Đào Văn Trạc. Ở hầm C3, hai em sinh viên thực tập và bác sĩ Tuyết được đưa ra sau cùng, thi thể nhiều ngày bị ngập nước. 3-4 năm sau, khi xây dựng lại bệnh viện không tìm thấy di hài của người nào, bấy giờ anh em mới thực sự nguôi ngoai vì mình đã cứu không để sót ai.
Trận bom hủy diệt kinh hoàng ấy, giặc Mỹ đã cướp đi sinh mạng 28 người, trong đó có 1 bệnh nhân và 27 nhân viên y tế của Bệnh viện Bạch Mai. Cuộc giải cứu ấy, cũng có hơn 30 người được cứu sống, trong đó có những người đầu ngành như Giáo sư Lê Kinh Duệ, bác sĩ Ngô Thị Ninh…
Sự kiện Mỹ ném bom xuống Bệnh viện Bạch Mai làm rung chuyển cả thế giới lúc đó. Phong trào biểu tình phản đối Mỹ, ủng hộ Việt Nam diễn ra khắp nơi. Năm 1972, Thủ tướng Thụy Điển Olop Palmer đã tình nguyện xuống đường biểu tình phản đối chiến tranh của Mỹ đối với nhân dân Việt Nam, đồng thời vận động nhân dân Thụy Điển hãy cùng với chính phủ Thụy Điển quyên góp tiền của để giúp đỡ nhân dân Việt Nam xây dựng lại Bệnh viện Bạch Mai.
Giữa khói lửa chiến tranh, khi cái chết hiện hữu trong từng nhịp bom rơi, người thầy thuốc vẫn đứng đó – không súng đạn trong tay, chỉ có y đức làm lá chắn và sinh mệnh con người làm lẽ sống. Họ cứu người không chỉ bằng tri thức y khoa, mà bằng cả lòng can đảm, sự hy sinh và tình người sâu thẳm. Có những ca cấp cứu diễn ra trong hầm tối, có những quyết định được đưa ra giữa ranh giới sinh – tử, nơi mỗi phút chậm trễ đều đổi bằng một mạng người.
Bệnh viện Bạch Mai mùa đông năm 1972 đã trở thành biểu tượng bất diệt của tinh thần ấy. Những người thầy thuốc – nhiều người còn rất trẻ – đã ngã xuống khi tay vẫn còn cầm ống nghe, khi lời hẹn ước đời thường còn dang dở. Họ ra đi không phải trên chiến hào, nhưng đã chiến đấu đến giây phút cuối cùng để giữ lại sự sống cho đồng bào mình. Sự hy sinh thầm lặng ấy đã khắc sâu một chân lý: trong chiến tranh, người thầy thuốc cũng là người lính, mang trên vai sứ mệnh cao cả không kém bất kỳ mặt trận nào.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, những mất mát ấy không chìm vào quên lãng, mà trở thành nền móng tinh thần cho các thế hệ y bác sĩ hôm nay và mai sau. Nhắc lại câu chuyện Bạch Mai không chỉ để đau xót, mà để tri ân; không chỉ để nhớ, mà để tiếp nối. Bởi lịch sử đã chứng minh rằng, dù chiến tranh hay hòa bình, người thầy thuốc Việt Nam luôn lựa chọn đứng về phía sự sống – kiên cường, nhân ái và bất khuất – cứu người giữa ranh giới sinh tử, để ánh sáng nhân đạo không bao giờ tắt.



