Anh hùng Lực lượng vũ trang

Người thợ kỹ thuật radar và những 'mắt thần' bắt gọn B-52

Với tinh thần tự học và óc sáng tạo vượt khó, người lính kỹ thuật Vũ Đức Chính đã thực hiện gần 500 lượt sửa chữa máy radar và đưa ra nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật giá trị. Đặc biệt, những hiệu chỉnh của ông đã giúp radar phát hiện máy bay B-52 từ cự ly xa hơn 240km, đóng góp trực tiếp vào những chiến công hiển hách bảo vệ bầu trời Tổ quốc.

Lạng Sơn22/01/2026Liên Đội trường PTDTBT TH&THCS Tân Minh (trường PTDTBT TH&THCS Tân Minh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Anh hùng Vũ Đức Chính sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng tại xã Vân Du, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Năm 1960, khi vừa tròn 20 tuổi, ông lên đường nhập ngũ và được biên chế vào Trung đoàn 290, Binh chủng Radar. Từ một thợ sửa chữa trình độ sơ cấp, bằng ý chí tự học bền bỉ, ông đã vươn lên trở thành thợ bậc 5, làm chủ hoàn toàn các dòng radar sóng mét và sóng centimeter phức tạp nhất thời bấy giờ.

Trong suốt 24 năm binh nghiệp, dấu chân ông in hằn trên khắp các nẻo đường chiến trường ác liệt. Dù phải leo núi cao, băng qua bom đạn hay đối mặt với tình trạng thiếu hụt linh kiện trầm trọng, ông vẫn kiên trì thực hiện gần 500 lần sửa chữa máy móc. Một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất là lần cơ động máy lên đỉnh núi cao tại Kỳ Sơn (Hà Tĩnh). Khi không có đường cho xe lên, ông đã trực tiếp thiết kế phương án tháo rời từng khối máy, dùng sức người vận chuyển lên đỉnh núi và lắp ráp lại với độ chính xác tuyệt đối, giúp đơn vị phát hiện mục tiêu bay thấp một cách hiệu quả.

Bước ngoặt lịch sử diễn ra vào năm 1972, khi đế quốc Mỹ dùng máy bay B-52 đánh phá miền Bắc. Trước những dải nhiễu dày đặc của kẻ thù, ông Chính đã nghiên cứu và hiệu chỉnh thành công các thiết bị đồng bộ trên dòng radar II-10 và 513K. Sáng kiến này cho phép quân ta phát hiện B-52 từ cự ly hơn 240km – điều mà trước đó các máy radar chưa làm được. Không dừng lại ở việc sửa chữa, ông còn xuống tận đài quan sát để cùng trắc thủ phân biệt mục tiêu B-52 với máy bay cường kích dựa trên thông số kỹ thuật, sau đó đúc kết thành quy trình đào tạo cho toàn quân chủng.

Với những cống hiến đặc biệt xuất sắc đó, dù hồ sơ được xét duyệt từ năm 1972 nhưng do điều kiện chiến tranh phải di chuyển liên tục, đến năm 1978, ông mới chính thức được Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Sau 24 năm cống hiến với 12 năm đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua, ông trở về đời thường tại quê hương, trở thành nhân chứng sống truyền lửa tinh thần yêu nước cho thế hệ trẻ hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn