NGƯỜI THỢ QUÂN GIỚI VỚI NHỮNG SÁNG KIẾN PHỤC VỤ CHIẾN TRƯỜNG
Nguyễn Văn Dậu sinh năm 1929, dân tộc Kinh, quê ở Thị Cầu, thị xã Bắc Ninh, tỉnh Hà Bắc; trú quán tại xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Hà Bắc. Ông tham gia công tác trong ngành quân giới từ tháng 9 năm 1947. Với tinh thần tận tụy, sáng tạo và trách nhiệm, ông đã có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, góp phần nâng cao năng suất, tiết kiệm nguyên vật liệu, bảo đảm vũ khí, trang bị phục vụ bộ đội chiến đấu. Ngày 01/01/1967, ông được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
rong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, khi điều kiện sản xuất còn hết sức thiếu thốn, ngành quân giới có nhiệm vụ đặc biệt quan trọng: nghiên cứu, chế tạo, sửa chữa và bảo đảm vũ khí cho bộ đội ngoài mặt trận. Trong đội ngũ những người thợ quân giới ấy, Nguyễn Văn Dậu là một tấm gương tiêu biểu về tinh thần lao động sáng tạo và ý thức trách nhiệm.
Từ tháng 9 năm 1947, ông bắt đầu công tác trong ngành quân giới. Sau nhiều năm làm việc tại các xưởng quân giới, khi được tuyên dương Anh hùng, ông giữ cương vị Tổ trưởng kỹ thuật Nhà máy Z.2, Cục Quân giới, Tổng cục Hậu cần. Suốt khoảng 20 năm công tác, ông luôn tận tụy với nhiệm vụ, say mê nghiên cứu, tìm cách cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông đã có nhiều sáng kiến thiết thực. Ông làm dụng cụ đo khi tiện măng-sông đạn AT, giúp năng suất tăng 25%; nghiên cứu dao hình để tiện đầu kim hỏa súng trường, tăng năng suất 50%; đồng thời sử dụng bạc cặp để chỉnh tâm máy tiện, cũng giúp năng suất tăng đáng kể.
Hòa bình lập lại, Nguyễn Văn Dậu tiếp tục phát huy tinh thần sáng tạo. Năm 1956, ông có sáng kiến tiện bạc đồng ở chân pháo, giảm thời gian chế tạo một sản phẩm từ 8 giờ xuống còn 5 giờ 30 phút. Năm 1959, ông hợp lý hóa việc khoan kim hỏa súng trường Mát (Mas), giúp năng suất tăng 50%.
Không chỉ tìm cách nâng cao năng suất, ông còn đặc biệt chú trọng tiết kiệm nguyên vật liệu. Những mẩu thép tưởng như bỏ đi được ông tận dụng để chế tạo các loại dao tiện phù hợp, nâng cao tốc độ gia công và giảm đáng kể thời gian sản xuất. Một sáng kiến khác về chế tạo máng rãnh, gá trên máy mài giúp rút ngắn thời gian gia công từ 4 phút xuống chỉ còn khoảng nửa phút mà vẫn bảo đảm độ chính xác.
Năm 1964, Nguyễn Văn Dậu cùng ban tiện của nhà máy tham gia sửa chữa 3 triệu viên đạn Tuyn (Tulle), rút ngắn được khoảng hai phần ba thời gian, góp phần bảo đảm kịp thời vũ khí, đạn dược cho chiến trường. Năm 1965, ông tiếp tục cải tiến máy móc để cưa miếng gỗ chèn đạn cối 82mm, đưa năng suất tăng lên 10 lần, giải quyết một khó khăn lớn của phân xưởng.
Đằng sau những sáng kiến kỹ thuật ấy là tinh thần trách nhiệm cao đối với nhiệm vụ chung. Ông không chỉ hoàn thành tốt công việc của mình mà còn tích cực hướng dẫn, bồi dưỡng công nhân trẻ, giúp đồng đội nâng cao tay nghề. Ông luôn đề cao ý thức tổ chức, kỷ luật, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân và giữ lối sống khiêm tốn, giản dị.
Những đóng góp của Nguyễn Văn Dậu được ghi nhận bằng nhiều phần thưởng: Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Ba, 33 bằng khen và giấy khen, cùng 10 năm đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua. Ông cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng một áo lụa. Đặc biệt, ngày 01/01/1967, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Câu chuyện về Anh hùng Nguyễn Văn Dậu cho thấy trong chiến tranh, đóng góp cho Tổ quốc không chỉ được tạo nên ở nơi trận mạc. Những người thợ quân giới, bằng bàn tay, trí tuệ, sự chính xác và tinh thần sáng tạo, cũng đang trực tiếp góp phần tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Giá trị truyền thống
Nguyễn Văn Dậu là hình ảnh tiêu biểu của người chiến sĩ – người thợ quân giới, luôn tận tụy với công việc, chủ động khắc phục khó khăn, phát huy sáng kiến và đặt lợi ích của tập thể, của chiến trường lên trên hết.
Câu chuyện của ông để lại bài học sâu sắc về tinh thần trách nhiệm, ý chí sáng tạo, tiết kiệm, kỷ luật và lòng tận tụy với nhiệm vụ. Đó cũng là những phẩm chất có giá trị đối với cán bộ, chiến sĩ hôm nay trong học tập, công tác và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.



