Cựu chiến binh

Người Thượng Sĩ Chiến Công và Hành Trình Bất Tận Nơi Chiến Trường

Hải Phòng14/11/2025Nguyễn Thúy Hoa (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Nam Thanh Miện)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Người Thượng Sĩ Chiến Công và Hành Trình Bất Tận Nơi Chiến Trường

Hôm nay, khi có các bạn thanh niên tìm đến, tôi thực sự rất bất ngờ và xúc động. Những ký ức này, kể cả vợ con hay người thân gần gũi cũng không thể nào hiểu hết được, chỉ có đồng đội cùng vào sinh ra tử mới cảm thông trọn vẹn. Tôi là Vũ Văn Lý, sinh ngày 08 tháng 01 năm 1954. Tôi nhập ngũ vào ngày 04 tháng 4 năm 1972, gia nhập Trung đoàn 42, Sư đoàn 5 (Quân khu 7) và chiến đấu trực tiếp tại Mặt trận phía Nam - Tây Nam (chiến trường B2), chủ yếu ở Tây Ninh, Long An và các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Cuộc đời tôi là một hành trình đi suốt dọc các chiến sự. Tôi có mặt ở mọi đội hình, từ tổ ba người, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn cho đến sư đoàn, giữ các chức vụ, cao nhất là Thượng sĩ, Đại đội phó. Suốt những năm tháng trong quân ngũ, tôi đã tham gia vào hàng loạt trận đánh lớn nhỏ như: Trận Núi Bà Đen (05-08/1973): Chúng tôi tham gia chốt giữ ở Núi Bà Đen (núi con). Trận giữ đất đầu tiên ấy đã ác liệt, đồng đội tôi bị thương và hy sinh ngay tại chốt. Trận Đức Hòa - Đức Huệ (04-08/1974): Đây là trận đánh tôi ghi nhớ nhất. Cả đại đội, cả trung đội đều hy sinh gần hết. Trận đánh diễn ra tại Đức Hòa – Đức Huệ là một địa ngục thực sự. Chúng tôi, một tiểu đội chỉ còn vỏn vẹn vài người, cố thủ trong một căn hầm chữ A chật hẹp, đất đá xung quanh đã bị cày xới nát bấy bởi pháo và B-52. Mùi thuốc súng, mùi đất ẩm và máu tanh quyện vào nhau, bóp nghẹt lồng ngực. Đột nhiên, mặt đất rung chuyển dữ dội. Một tiếng gầm kinh hoàng xé toạc không gian. “Xe tăng! Xe tăng địch!” Một chiếc xe tăng khổng lồ, sơn màu rằn ri bụi bặm, hiện ra như một con quái vật từ màn khói, thẳng tiến về phía cửa hầm của chúng tôi. Xích sắt của nó nghiến trên nền đất đá, phát ra âm thanh lạnh lẽo, chết chóc. Một Đồng chí trong đội của tôi, gương mặt hằn rõ sự quyết liệt, lập tức bật dậy. Anh rút khẩu súng đã lên đạn, nhoài người ra cửa hầm để chọn góc bắn. Nhưng trong khoảnh khắc định mệnh đó, tay anh run lên vì căng thẳng tột độ.

Chiếc xe tăng đã ở quá gần, chỉ còn cách chừng 15 mét. Anh lắp quả đạn vào nòng súng, nhưng... kẹt! Quả đạn không vào khớp, tiếng "cạch" khô khốc vang lên trong sự im lặng chết chóc. Anh cố gắng đẩy mạnh, mồ hôi ướt đẫm trán, nhưng vô vọng. Chỉ một giây nữa thôi, họng pháo của địch sẽ khai hỏa. Chính lúc đó, người đội trưởng của tôi hét lên một tiếng "Thà hy sinh!" rồi giật mạnh khẩu súng trường trên tay người đồng đội. Trong khoảnh khắc đó ĐÙNG! Tiếng súng máy trên tháp pháo xe tăng gầm lên. Một loạt đạn lửa 12,7mm xé gió lao tới. Người đồng đội của tôi trúng đạn thẳng vào ngực ngay khi vừa nhoài nửa người ra khỏi cửa hầm. Máu tươi bắn tung tóe, nhuộm đỏ thành đất. Anh ta gục xuống, chắn ngang cửa hầm, đôi mắt mở to nhìn thẳng vào bầu trời đầy khói. Trong khi đó, chiếc xe tăng vẫn tiến lên. Nó lao thẳng qua vị trí cửa hầm. Tôi và một đồng chí nữa may mắn khi rơi vào mép hàm ếch của căn hầm, ngay dưới xác của người đồng đội. Chiếc xe tăng khổng lồ leo hẳn lên trên nóc hầm. Nền đất và khúc gỗ chống đỡ trên đầu tôi kêu "kẽo kẹt... kẽo kẹt..." như sắp vỡ vụn. Tôi cảm nhận rõ sức nặng hàng chục tấn đè nghiến lên cơ thể mình qua lớp đất mỏng. Hầm rung lắc dữ dội, bụi đất đổ xuống như mưa. Âm thanh nghiến ken két của xích sắt di chuyển chậm rãi trên nóc hầm, tạo ra một sự tra tấn tinh thần kinh hoàng. Hơi nóng từ động cơ xe tăng phả xuống, ngột ngạt. Khoảnh khắc đó kéo dài như một thế kỷ. Tôi nằm im, nghe rõ nhịp tim đập điên cuồng và tiếng máu rỉ từ người đồng đội rơi xuống đất lạnh. Chiếc xe tăng di chuyển được khoảng chục mét, nghiền nát mọi thứ phía sau, rồi quay đầu tiến vào sâu hơn trong trận địa. Tôi may mắn sống sót, nằm lại dưới cửa hầm, bên cạnh người đồng đội đã hy sinh, người đã dùng chính thân mình làm vật cản để đổi lấy thời gian sống còn cho những người còn lại. Sau trận đó tôi tiếp tục được điều đi đánh giải phóng Tiền đồn Long Khốt ở Long An và Trận Căn cứ Bảy Nhành. Đặc biệt là tại Chiến Dịch Hồ Chí Minh tôi tham gia đánh chiếm Quận Thủ Thừa, Long An. Kết thúc chiến dịch tôi vinh dự được tặng thưởng HUÂN CHƯƠNG CHIẾN CÔNG HẠNG BA và KỶ NIỆM CHƯƠNG CHIẾN SĨ CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH.

Tôi ra ngũ (phục viên) vào ngày 01 tháng 01 năm 1976, nhưng niềm an ủi lớn nhất là tôi vẫn còn đây, vẫn sống sót sau những trận chiến ác liệt nhất, để kể lại câu chuyện về một thế hệ đã là quá khứ. Mỗi khi nói về đồng đội và những trận đánh nước mắt ông lại trào lên, tiếng nói không thành lời… chúng tôi và người bà( vợ của ông) phải khuyên ông bình tĩnh, giữ cảm xúc, uống nước và ngồi tĩnh lại để kể tiếp! Ông nói đến giờ có những đêm ông vẫn mơ thấy chiếc xe tăng đang đè lên vai mình và bật dậy gọi đồng đội ơi! Vô cùng đau đớn và nhớ đồng đội, nhớ chiến trường xưa rất nhiều… Những giọt nước mắt của ông hôm nay – giọt nước mắt rơi cho những đồng đội không còn nữa – là minh chứng sống động nhất cho tình đồng chí keo sơn. Nó dạy chúng ta rằng, mối liên kết giữa con người trong gian khổ là tài sản vô giá, vượt lên trên mọi sự khác biệt cá nhân. Là lời nhắc nhở rằng, trong những khoảnh khắc sinh tử, có những người đã chọn đặt sự an nguy của tập thể, của đồng đội lên trên mạng sống của chính mình. Câu chuyện cũng giúp thế hệ thanh niên hiểu rằng hòa bình chúng ta đang thừa hưởng không phải là điều hiển nhiên, mà được đánh đổi bằng máu, nước mắt và sinh mạng của biết bao thế hệ đi trước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn