Người tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 77 năm xưa và niềm đam mê nghệ thuật rối nước của quê hương Đào Thục
Trong ngôi nhà rộng rãi trông ra mảnh sân xanh mướt cây cảnh, ông lại nhắc với tôi những chiến sĩ yêu quý của mình đã từng ngồi trên mâm pháo, trải bao trận mạc, từ khi rời khóa huấn luyện ở Canh Nậu (Yên Thế - Bắc Giang) do chuyên gia tên lửa phòng không Liên Xô Phê-đô-tốp trực tiếp dạy năm 1965, bắn rơi chiếc máy bay đầu tiên F105 ngày 10/8/1966. Đến tháng 10 năm 1968, tiểu đoàn 77 đã hạ 14 máy bay các loại, từ F105, F4 đến máy bay không người lái bay thấp, trong đó, tiểu đoàn đã góp vào chiến công diệt địch trên bầu trời Hà Nội 5 máy bay (hai F4, một F105, một không người lái 147J). Kỷ niệm sâu sắc mà đến bây giờ vẫn không phai nhòa trong tâm trí ông, là ngày tiểu đoàn 77 được nhận lẵng hoa của Bác gửi tặng và tại Đại hội thi đua quyết thắng toàn quân chủng Phòng không Không quân cuối năm 1968, Tiểu đoàn được khen thưởng và nhận cờ Quyết thắng. Những huân, huy chương ông đeo lấp lánh trên ngực, và chợt nhận ra, mỗi huy chương là một dấu mốc trong cuộc đời người trưởng thành từ sĩ quan điều khiển lên tiểu đoàn trưởng, luôn phải đối mặt với lũ giặc trời, mà ông vẫn còn nhớ như in bao nhiêu lần “nó” bổ nhào xuống trận địa, và máu anh em đã đổ ngay trên mâm pháo.
Đầu năm 1971, theo sự chỉ huy của Quân chủng Phòng không Không quân và Sư đoàn 361, Tiểu đoàn 77 di chuyển từ hướng tây nam đến hướng tây - tây bắc, cơ động về trận địa Chèm, chuẩn bị cho trận đánh lớn mà Trung ương Đảng và Quân ủy dự đoán nhất định sẽ diễn ra.
Từ tháng 10 năm 1972, Tiểu đoàn tăng cường hơn nữa luyện tập đánh B52 bởi vì vấn đề mới và cũng là khó nhất so với những năm trước khi đối đầu với B52 thế hệ mới là làm thế nào để bắt đúng nhiễu của B52 khi các loại máy bay chiến thuật bay bảo vệ xung quanh cũng phát nhiễu điện tử và nhiễu kim loại? Ông nhớ lại: Khi Liên Xô viện trợ tên lửa để đánh máy bay Mỹ, từ năm 1967, các đồng chí chuyên gia có nói với chúng tôi chân thành: “Giao vũ khí cho Việt Nam, chúng tôi tin tưởng các đồng chí với những bộ óc thông minh và những bàn tay vàng sẽ chiến thắng”. Bàn tay vàng, chính là ba trắc thủ trên mâm pháo, dày dạn kinh nghiệm và thông minh tuyệt vời. Mỗi B52 có 16 bộ phát nhiễu, đeo 15 tấn bom. Cả đàn không kích bay theo hình cũi lợn: 3 chiếc B52 ở giữa, hơn chục máy bay các loại bay xung quanh bảo vệ. Chúng tôi đã kiên trì nghiên cứu để tìm ra cách bắt trúng giải nhiễu của B52 giữa biển nhiễu hiện trên màn hình ở trước mặt. Chúng muốn bịt mắt các loại ra-đa, nhất là ra-đa tên lửa. Nếu ra-đa tên lửa nào phát sóng thì chúng sẽ dùng các loại tên lửa để phóng trả theo cánh sóng, đánh vào trận địa, gây tổn thất cho ta. Nhưng bó tay ư? Tôi củng cố ý chí quyết chiến quyết thắng trong tiểu đoàn, nhất là với ba trắc thủ: Nguyễn Văn Đức, sĩ quan điều khiển, Lưu Văn Mộc, trắc thủ góc tà; Đỗ Đình Tân, trắc thủ góc phương vị; Phạm Hồng Hà, trắc thủ cự ly. Do vậy, tiểu đoàn 77 là tiểu đoàn đầu tiên trong trung đoàn đã kiên quyết phát sóng ra-đa để bắt bằng được nhiễu B52. Có một kỷ niệm rất vui, khi đó, chính ủy sư đoàn 361- anh Văn Giang có nói với anh em các trung đoàn: “Văn mở mắt được rồi, các anh cứ mạnh dạn mở mắt ra”. Mắt của chúng tôi, chính là phát sóng ra-đa đấy. Tuy vậy, vẫn còn một vấn đề nữa khá nan giải: địch thả nhiễu giả của B52 và nhiễu của F111 hòng bịt mắt ra-đa và đánh lừa ta bắt không trúng mục tiêu. Nó chủ quan cho rằng: không có lực lượng nào quan sát và bắn được B52. Sư đoàn 361 nêu cao quyết tâm phải tiêu diệt B52 và mỗi tiểu đoàn phải phát huy sáng kiến để phát hiện chính xác nhiễu thật của nó. Ở tiểu đoàn 77, Nghiêm Xuân Danh là đôi mắt thần của chúng tôi. Ngồi trên chuồng cu lênh khênh, mặt đối mặt với máy bay địch, Danh quan sát chúng bằng kính TZK có bội số 40. Khi B52 bay vào ở cự ly khoảng 40km, tinh mắt là có thể phát hiện được, và đợi nó vào đúng 35km là tôi cho phát sóng ra-đa; chúng tôi bám sát nó bằng phương pháp tự động nên đã phát huy được tính ưu việt của khí tài với xác xuất trúng mục tiêu cao nhất; đồng thời, chủ động chống và gạt được tên lửa địch.


