NGƯỜI TIỂU ĐOÀN TRƯỞNG TRINH SÁT TÌNH BÁO QUẢ CẢM VÀ KHÚC TRÁNG CA QUYẾT TỬ TRÊN ĐƯỜNG SỐ 4 THU ĐÔNG 1947
Trong Chiến dịch Việt Bắc Thu – Đông 1947 – cuộc đọ sức chiến lược có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của chính quyền cách mạng non trẻ, Đường số 4 huyền thoại nối liền vùng duyên hải Đông Bắc với chiến khu Việt Bắc đã trở thành "con đường máu lửa" chôn vùi tham vọng đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp. Liệt sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Lương – người con ưu tú của quê hương Quảng Ninh, Tiểu đoàn trưởng đầu tiên của Tiểu đoàn 426 Trinh sát Tình báo thuộc Bộ Tổng Tham mưu (tiền thân của Lữ đoàn 74 Trinh sát Đặc nhiệm lừng danh thuộc Tổng cục II, Bộ Quốc phòng) – là biểu tượng kiệt xuất cho trí tuệ mưu lược, tinh thần tiên phong và khí phách kiên cường của bộ đội tình báo quân sự Việt Nam. Trận tập kích đồn Na U ngày 28 tháng 10 năm 1947 cùng sự hy sinh anh dũng của người chỉ huy ở tuổi 31 đã tạc nên một tượng đài bất tử, góp phần bẻ gãy gọng kìm phía Đông của giặc Pháp, giữ vững huyết mạch chiến khu an toàn.
Mùa thu năm 1947, thực dân Pháp huy động hơn 1,2 vạn quân tinh nhuệ lính dù, lính thủy đánh bộ, xe cơ giới và phi cơ mở cuộc tấn công quy mô lớn mang tên Chiến dịch Léa đánh thẳng vào căn cứ địa Việt Bắc hòng xóa sổ cơ quan đầu não kháng chiến và bắt sống Chủ tịch Hồ Chí Minh:
Địch triển khai hai gọng kìm khổng lồ bao vây căn cứ địa: gọng kìm phía Tây theo sông Lô và gọng kìm phía Đông theo trục Đường số 4 (Lạng Sơn – Cao Bằng – Bắc Kạn).
Trục Đường số 4 hiểm trở chạy qua những hẻm núi sâu, vách đá dựng đứng của vùng Đông Bắc trở thành yết hầu vận chuyển chiến lược, nơi địch đóng giữ dày đặc các cứ điểm, đồn bốt nhằm kiểm soát hoàn toàn giao thông, tiếp viện quân nhu và đạn dược cho các mũi thọc sâu.
Đồn Na U là một trong những cứ điểm kiên cố được quân Pháp thiết lập nhằm chốt chặn, cắt đứt sự liên lạc tác chiến giữa chiến trường duyên hải Đông Bắc với khu căn cứ Trung ương Việt Bắc. Đồn được bố phòng trên thế đất hiểm trở, lô cốt xây dày, bao quanh bởi nhiều lớp rào kẽm gai và bãi mìn, trang bị hỏa lực đại liên và súng cối khống chế toàn bộ mặt đường.
Nhiệm vụ của Tiểu đoàn 426 – đơn vị trinh sát vũ trang đặc biệt của Bộ Tổng Tư lệnh – là phải tổ chức trinh sát, tiềm nhập và bằng mọi giá tiêu diệt các cứ điểm then chốt trên tuyến này, đánh gãy mắt xích vận tải của địch, chia lửa trực tiếp cho toàn mặt trận Việt Bắc.
Người cán bộ quân sự dày dạn Lê Lương đã nhận lãnh trọng trách nặng nề ấy bằng tất cả bản lĩnh, tài thao lược và lòng trung thành tuyệt đối với Đảng.
Người thanh niên vùng than sớm giác ngộ ngọn cờ cứu quốc
Lê Lương sinh năm 1916 tại tỉnh Quảng Ninh – vùng mỏ than giàu truyền thống đấu tranh kiên cường, nơi tôi luyện ý chí bất khuất của giai cấp công nhân Việt Nam.
Lớn lên dưới ách áp bức phu phen tạp dịch tàn bạo của chế độ thực dân đối với thợ mỏ, người thanh niên sớm nuôi dưỡng lòng căm thù giặc sâu sắc và khát vọng giải phóng quê hương:
Ông tham gia các phong trào công nhân và thanh niên yêu nước từ những năm trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Sau khi chính quyền cách mạng thành lập, ông tình nguyện gia nhập lực lượng Vệ quốc đoàn, trải qua nhiều cương vị chỉ huy chiến đấu trên chiến trường Đông Bắc.
Nhờ tác phong điềm đạm, tư duy quân sự nhạy bén, thể lực bền bỉ và biệt tài nắm bắt địa hình, tổ chức trinh sát, ông được Bộ Tổng Tham mưu tin cậy giao trọng trách thành lập và chỉ huy Tiểu đoàn 426 – đơn vị trinh sát đặc nhiệm nòng cốt, thực hiện các nhiệm vụ luồn sâu, nắm tin tức cơ mật và đánh các trận hiểm hóc nhất sau lưng địch.
Người Tiểu đoàn trưởng trinh sát tài ba trên chiến trường Đông Bắc
Dưới sự chỉ huy sâu sát của Tiểu đoàn trưởng Lê Lương, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 426 đã phát huy cao độ lối đánh độc lập, mưu trí:
Đơn vị vừa làm nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo về các cuộc hành quân của quân viễn chinh Pháp, vừa trực tiếp tổ chức các trận phục kích, chặn đứng các đoàn xe cơ giới của địch trên Đường số 4.
Ông cùng các tổ trinh sát thường xuyên cắt rừng, bám sát các đồn bốt giặc nhiều ngày đêm, kiên nhẫn vẽ từng sơ đồ hầm hào, bố trí hỏa lực và nghiên cứu quy luật sinh hoạt của đối phương để vạch ra phương án đánh chắc thắng.
Sự mưu lược và tinh thần gương mẫu của người chỉ huy đã biến Tiểu đoàn 426 thành một mũi nhọn trinh sát tinh nhuệ, một đơn vị đặc biệt xuất quỷ nhập thần khiến quân Pháp đóng trên tuyến biên giới Đông Bắc luôn phải nơm nớp lo sợ.
Trận tập kích đồn Na U ngày 28 tháng 10 năm 1947
Cuối tháng 10 năm 1947, khi chiến dịch phản công của ta trên toàn Mặt trận Việt Bắc bước vào giai đoạn quyết định:
Tiểu đoàn 426 nhận lệnh phối hợp cùng các lực lượng vũ trang địa phương mở cuộc tập kích tiêu diệt đồn Na U – mắt xích then chốt chặn đứng tuyến Đường số 4.
Rạng sáng ngày 28 tháng 10 năm 1947, Tiểu đoàn trưởng Lê Lương trực tiếp chỉ huy trận đánh. Lợi dụng đêm tối và sương mù dày đặc của rừng núi, các tổ trinh sát bí mật cắt rào, gỡ mìn, tiếp cận sát chân tường cứ điểm.
Khi lệnh nổ súng phát ra, các mũi tiến công của Tiểu đoàn 426 đồng loạt nổ súng, tung thủ pháo và lựu đạn áp đảo các hỏa điểm tiền duyên, đánh sập các chốt gác bên ngoài của giặc.
Bị đánh bất ngờ, lính Pháp trong đồn điên cuồng rút vào các lô cốt bê tông cố thủ, dùng súng máy và súng cối bắn xối xả ra các cửa mở nhằm chặn đường tiến quân của ta, khiến một số chiến sĩ xung kích bị thương vong, mũi đột kích có nguy cơ bị chững lại.
Khúc tráng ca quyết tử của người chỉ huy tiểu đoàn
Trước tình thế chiến sự giằng co căng thẳng, nhận thấy nếu trời sáng địch sẽ điều máy bay và viện binh đến phản kích gây tổn thất lớn cho bộ đội:
Tiểu đoàn trưởng Lê Lương đã không ngần ngại rời vị trí chỉ huy phía sau, dũng cảm lao lên hàng đầu, trực tiếp dẫn đầu mũi xung kích áp sát hỏa điểm đại liên chủ yếu của giặc.
Dưới làn đạn rát mặt của đối phương, ông vừa dõng dạc hô vang mệnh lệnh tiến công cổ vũ tinh thần chiến đấu cho toàn đơn vị, vừa dùng súng và lựu đạn bắn phá, dập tắt từng ụ súng địch.
Giữa lúc trận chiến đang ở đỉnh điểm quyết liệt, người chỉ huy 31 tuổi bị trúng đạn trọng thương. Dù máu chảy ướt đẫm quân phục, ông vẫn kiên quyết không rời trận địa, nén đau, gượng dậy ra hiệu cho các mũi nhọn tiếp tục xốc tới bộc phá tiêu diệt cứ điểm trước khi trút hơi thở cuối cùng vào ngày 28 tháng 10 năm 1947.
Noi gương người Tiểu đoàn trưởng kiên cường, toàn thể chiến sĩ Tiểu đoàn 426 đã gầm thét xông lên, quét sạch các hỏa điểm còn lại, làm chủ hoàn toàn đồn Na U, đập tan cứ điểm chốt chặn Đường số 4 của quân Pháp.
Ông ngã xuống ở tuổi 31 – cống hiến trọn vẹn dũng khí và tài năng quân sự cho thắng lợi vẻ vang của quân và dân ta trong Chiến dịch Việt Bắc Thu – Đông 1947.
Mốc son phong tặng danh hiệu Anh hùng năm 2002
Trận hạ đồn Na U và sự hy sinh anh dũng của Tiểu đoàn trưởng Lê Lương đã giáng một đòn nặng nề vào gọng kìm phía Đông của quân viễn chinh Pháp, góp phần làm thất bại hoàn toàn âm mưu đánh úp chiến khu Việt Bắc của Tướng Raoul Salan, giữ vững tuyến giao thông chiến lược huyết mạch nối liền Đông Bắc với căn cứ địa kháng chiến.
Tiểu đoàn 426 do ông đặt nền móng và chỉ huy đầu tiên sau này đã không ngừng lớn mạnh, phát triển thành Lữ đoàn 74 Trinh sát Đặc nhiệm thuộc Tổng cục II (Bộ Quốc phòng) – một đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân với những chiến công hiển hách trên khắp các chiến trường.
Ghi nhận những cống hiến đặc biệt xuất sắc và sự hy sinh lẫm liệt vì nền độc lập tự do của Tổ quốc trong thời kỳ đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, ngày 27 tháng 02 năm 2002, Liệt sĩ Lê Lương đã vinh dự được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Tên tuổi và chiến công của ông được khắc ghi trang trọng trong trang vàng truyền thống của Tổng cục II (Bộ Quốc phòng), Lữ đoàn 74 và Nhà truyền thống tỉnh Quảng Ninh.
Cuộc đời 31 mùa xuân của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Lương là một bản hùng ca ngời sáng về lòng trung trinh ái quốc, dũng khí người lính trận và phong cách người chỉ huy trinh sát tình báo tài ba. Từ vùng than Quảng Ninh kiên cường đến đỉnh đèo Na U rực lửa mùa thu năm 1947, hình ảnh người Tiểu đoàn trưởng dẫn đầu mũi xung kích và ngã xuống vì sự toàn vẹn của căn cứ địa kháng chiến mãi mãi là tượng đài bất tử, tạc vào lịch sử hào hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.



