Anh hùng Lực lượng vũ trang

Người tình báo kiên trung giữa lòng Sài Gòn

Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tàu, bí danh Tư Cang, là nhà tình báo từng chỉ huy Cụm tình báo H63, nhiều năm hoạt động bí mật trong nội thành Sài Gòn và góp phần thu thập những thông tin chiến lược quan trọng cho cách mạng. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông trở lại Sài Gòn trên cương vị Chính ủy Lữ đoàn 316 Đặc công biệt động, chỉ huy đơn vị đánh chiếm cầu Rạch Chiếc, mở đường cho các cánh quân tiến vào trung tâm Sài Gòn trong ngày toàn thắng.

Lâm Đồng13/06/2026Nguyễn Phú Hoài (Trường Đại học Yersin Đà Lạt)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Người tình báo kiên trung giữa lòng Sài Gòn

Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tàu, bí danh Tư Cang, là một trong những nhà tình báo tiêu biểu của cách mạng Việt Nam. Tham gia cách mạng từ năm 17 tuổi, ông đã đi qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, có nhiều năm hoạt động tình báo trong nội thành Sài Gòn. Dù ở hoàn cảnh nào, trên cương vị nào, ông cũng luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Một ngày tháng 4 năm 2025, khi được tìm gặp tại nhà riêng bên dòng kênh dẫn qua bán đảo Thanh Đa, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, ông Tư Cang hiện lên với dáng vẻ giản dị như chính cuộc đời mình. Người vợ hiền của ông đã mất cách đây ít năm. Ở tuổi 97, ông sống một mình, được cô con gái ở gần thường xuyên hỗ trợ, chăm sóc. Tuy tuổi cao, sức yếu, nhưng trí nhớ của ông vẫn minh mẫn, rành mạch khi nhắc lại những sự kiện, dấu mốc lịch sử và những lần “vô-ra” nội thành Sài Gòn cách đây 50-60 năm.

Năm 1961, khi còn là Chính trị viên Đại đội thuộc Sư đoàn 338 đóng ở Xuân Mai, ông được điều động vào miền Nam hoạt động tình báo. Từ khu vực cách vĩ tuyến 17 khoảng 3-4 km, ông cùng đồng đội ròng rã hơn 100 ngày di chuyển đường bộ, vượt Trường Sơn vào Nam. Sau khi đến Chiến khu Đ, lên Trung ương Cục miền Nam rồi về Củ Chi, ông bắt đầu thực hiện nhiệm vụ trong một môi trường đầy gian khổ, hiểm nguy.

Từ Củ Chi, Hóc Môn, với cương vị Cụm trưởng Cụm tình báo H63, ông chỉ huy mạng lưới tình báo, giao thông, trong đó có những cơ sở quan trọng như Phạm Xuân Ẩn, Mỹ Nhung và nhiều người khác. Mạng lưới này có nhiệm vụ tổ chức thu thập, chuyển thông tin tình báo chiến lược từ các cơ sở trong nội thành Sài Gòn ra căn cứ. Đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, đòi hỏi sự gan dạ, mưu trí, bình tĩnh và tuyệt đối bí mật.

Năm 1965, khi Mỹ leo thang chiến tranh, đưa hàng trăm nghìn quân cùng nhiều trang bị, khí tài hiện đại vào tham chiến, công tác tình báo đặt ra những yêu cầu rất cao, nhất là về thông tin chiến lược. Do biết tiếng Pháp, tiếng Anh và có nhiều kinh nghiệm hoạt động, ông Tư Cang được cấp trên điều động trực tiếp vào nội thành Sài Gòn để chỉ đạo mạng lưới tình báo H63. Từ đó, ông thường xuyên “vô-ra” Sài Gòn với nhiều vỏ bọc khác nhau như chủ đồn điền cao su, thông dịch viên, người thân của những nhân vật quyền thế, giàu sang nhằm qua mắt địch và thuận lợi cho hoạt động.

Mỗi lần gặp Phạm Xuân Ẩn, khi đó là phóng viên Tạp chí Time của Mỹ, ông thường đi ô tô, ăn mặc bảnh bao, đóng vai một chủ sở cao su giàu có ở Dầu Tiếng xuống chơi. Biết Phạm Xuân Ẩn thích chim, ông thường mang theo một con khiếu để tặng, trò chuyện tự nhiên, rôm rả, khiến những người xung quanh không nghi ngờ. Chính trong những chuyến thăm tưởng như bình thường ấy, hai người bí mật trao đổi những thông tin tình báo chiến lược quan trọng.

Để bảo đảm an toàn trong nhiều năm hoạt động giữa nội thành Sài Gòn, ông Tư Cang phải ở nhiều nơi, sử dụng nhiều vỏ bọc và dựa vào các cơ sở là người dân trong nội thành. Ông thường nói với đồng đội rằng vào hoạt động trong nội thành thì cứ “coi như chết rồi”, bởi cạm bẫy và hiểm nguy có thể ập đến bất cứ lúc nào. Nơi ông ở lại lâu nhất là nhà ông Nguyễn Đăng Phong, cha của nữ biệt động Mỹ Nhung, bí danh Tám Thảo, người cùng hoạt động trong mạng lưới Cụm tình báo H63.

Ông Nguyễn Đăng Phong là chủ tiệm kinh doanh vải nổi tiếng giàu có tại Sài Gòn. Mỹ Nhung là cô gái xinh đẹp, giỏi giang, có học vấn, làm phiên dịch của cơ quan tham mưu thuộc Bộ tư lệnh Hải quân ngụy. Khi lưu lại nhà ông Phong, ông Tư Cang tạo nhiều vỏ bọc khác nhau, khi là người yêu, khi là chồng, khi là anh trai của Mỹ Nhung. Nhờ đó, các cuộc gặp gỡ, tiếp cận đối tượng Mỹ không gây nghi ngờ và ông cũng dễ dàng tiếp nhận những thông tin tình báo chiến lược do Mỹ Nhung thu thập được.

Trong suốt những năm tháng hoạt động tại Sài Gòn, ông Tư Cang không thể nhớ hết số lần “vô-ra” nội thành cùng bao hiểm nguy cận kề. Tuy nhiên, lần trở lại Sài Gòn đáng nhớ nhất, nhiều cảm xúc nhất đối với ông là lần trở lại vào những ngày thần tốc của Chiến dịch Hồ Chí Minh và trong ngày toàn thắng. Lần ấy, ông không còn phải mang bất kỳ vỏ bọc nào, mà trở lại trong cương vị người chỉ huy một đơn vị tiến công vào các điểm trọng yếu, mở đường cho các cánh quân tiến vào trung tâm Sài Gòn.

Đầu tháng 4 năm 1975, khi đang học lớp bổ túc cán bộ chính trị cao cấp tại Học viện Chính trị, Trung tá Nguyễn Văn Tàu cùng các học viên miền Nam nghe tin chiến trường liên tục giành thắng lợi nên lòng nóng như lửa đốt, mong được trở về miền Nam chiến đấu. Một buổi chiều, khi đang ôn bài, ông nhận lệnh lên gặp thủ trưởng cấp trên và được truyền đạt chỉ thị của Tổng cục Chính trị, yêu cầu chuẩn bị vào Nam chiến đấu. Biết tin, ông vỡ òa vui sướng, vội nói lời cảm ơn rồi chạy về lán trại, xúc động đến mức quên cả động tác chào thủ trưởng.

Ngày 15 tháng 4 năm 1975, ông Tư Cang rời Hà Nội theo Quốc lộ 1 vào Nam. Đây là lần thứ tư ông đi dọc chiều dài đất nước với rất nhiều cảm xúc. Lần thứ nhất là tháng 8 năm 1954, khi ông nhận nhiệm vụ tập kết ra Bắc. Lần thứ hai là tháng 12 năm 1961, khi ông vượt vĩ tuyến 17 trở lại miền Nam hoạt động tình báo. Lần thứ ba là cuối năm 1973, khi ông ra Bắc học bổ túc chính ủy sư đoàn. Lần thứ tư này, khi thời cơ giải phóng Sài Gòn đã đến, ông đi qua những thành phố, quê hương vừa được giải phóng trong không khí nô nức mừng vui, mang theo một niềm xúc động đặc biệt.

Khi vào đến miền Nam, ông Tư Cang được bổ nhiệm làm Chính ủy Lữ đoàn 316 Đặc công biệt động, Bộ Tham mưu Miền, có nhiệm vụ tiên phong đánh chiếm các cứ điểm quan trọng của địch, mở đường cho các đơn vị chủ lực đánh vào Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. Với sự am hiểu sâu sắc về nội thành Sài Gòn, đường sá, trọng điểm và tình hình địch, ông đã cùng đơn vị đảm nhiệm một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong thời khắc quyết định của lịch sử.

Trên cương vị Chính ủy Lữ đoàn 316 Đặc công biệt động, ông đã lãnh đạo, chỉ huy đơn vị đánh chiếm và giữ cầu Rạch Chiếc, cửa ngõ nội thành Sài Gòn ở hướng Đông, từ ngày 27 đến sáng 30 tháng 4. Đơn vị đã đập tan lực lượng địch tập trung cố thủ tại đây, mở đường cho Quân đoàn 2 tiến thẳng vào đánh chiếm các cơ quan đầu não của ngụy quyền Sài Gòn. Thắng lợi ấy góp phần buộc Tổng thống ngụy Dương Văn Minh và nội các Sài Gòn đầu hàng vô điều kiện, chấm dứt chế độ ngụy quyền tay sai.

Sau chiến tranh, ở tuổi gần bách niên, ông Tư Cang vẫn luôn minh mẫn, chăm chỉ viết lách và kể chuyện truyền thống. Hằng ngày, ông đọc báo, viết sách, tham gia giao lưu tại các trường học, đơn vị Quân đội, trả lời phỏng vấn báo chí và tiếp tục truyền lại những ký ức lịch sử cho thế hệ sau. Ông đã viết nhiều tác phẩm có giá trị như “Sài Gòn Mậu Thân 1968”, “Tình báo kể chuyện”, “Nước mắt ngày gặp mặt”, “Trái tim người lính”, “Bến Dược vùng đất lửa”, “Hoàng hôn trên chiến trường” và nhiều tác phẩm khác.

Với ông, việc viết và kể lại những năm tháng chiến đấu không phải để nói về riêng mình, mà để thế hệ trẻ hiểu hơn về lịch sử, về sự hy sinh, mất mát của cha anh, từ đó thêm tự hào và biết cống hiến cho đất nước. Ông cho rằng hòa bình hay chiến tranh có những hoàn cảnh khác nhau, nhưng nếu mỗi người biết yêu quê hương, đất nước, biết tự hào và hiểu thấu giá trị lịch sử cách mạng thì sẽ tự tìm được cách cống hiến thiết thực cho Tổ quốc.

Cuộc đời của Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tàu là biểu tượng của lòng trung thành, bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần cống hiến không ngừng nghỉ. Từ những năm tháng chui sâu trong lòng địch đến ngày trở lại chiến đấu trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, rồi những năm tháng miệt mài viết lại, kể lại lịch sử, ông vẫn giữ trong mình ngọn lửa cách mạng bền bỉ. Ngọn lửa ấy tiếp tục cháy mãi, lan tỏa hào khí của một thế hệ đã sống, chiến đấu và hy sinh vì độc lập, hòa bình, thống nhất của dân tộc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn