NGƯỜI TRỞ VỀ TỪ KHÓI LỬA: HÀNH TRÌNH TỪ BẢN BÁO TỬ ĐẾN CUỘC SỐNG ĐỜI THƯỜNG
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tấn, người con dân tộc Tày vùng đất chè Thái Nguyên, là tấm gương sáng về sự cống hiến thầm lặng trong kháng chiến chống Mỹ khi đảm nhận nhiệm vụ sửa chữa xe tăng, xe kéo pháo dưới làn bom đạn. Với tinh thần quyết tử cho xe chạy, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng năm 1973 ở tuổi 31 và tiếp tục giữ vững phẩm chất giản dị, cao quý trong thời bình. Câu chuyện về Anh hùng Nguyễn Văn Tấn thể hiện tinh thần anh dũng, đức hy sinh của thế hệ cha anh, trở thành bài học sống động cho thế hệ sau.

Mỗi khi nhắc đến các bậc anh hùng hào kiệt của vùng đất chè Thái Nguyên, người dân nơi đây lại tự hào kể cho nhau nghe về một tượng đài sống – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tấn. Không trực tiếp cầm súng xông lên chiến hào, nhưng người chiến sĩ dân tộc Tày ấy đã cống hiến cả tuổi trẻ để bảo vệ những mạch máu giao thông và giữ cho những đoàn xe xích, xe kéo pháo luôn gầm vang hướng về phía trước.
Năm 1965, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn cam go nhất, chàng thanh niên Nguyễn Văn Tấn tình nguyện lên đường nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện, nhiệm vụ đầu tiên của ông là bảo vệ cầu An Phú – một tọa độ lửa giao thông huyết mạch của tỉnh Thái Nguyên lúc bấy giờ. Tiếng bom gầm, đạn xé không làm lung lạc ý chí của người lính trẻ. Sau đó, nhờ sự thông minh và tư duy nhạy bén, ông được cử đi học chuyên sâu về cơ điện, trở thành khắc tinh của những hỏng hóc trên xe tăng và xe kéo pháo.
Trong những năm tháng mưa bom bão đạn, việc sửa xe đặc chủng ngay tại trận địa không khác gì một cuộc đấu trí với tử thần. Khi nhớ lại thời khắc ngàn cân treo sợi tóc ấy, Anh hùng Nguyễn Văn Tấn xúc động chia sẻ:
“Lúc ấy bom Mỹ rải thảm xung quanh, khói lửa mù mịt, nhưng chỉ cần nghe tiếng xích xe tăng xịch xịch hay tiếng pháo trục trặc là lòng tôi như lửa đốt. Đồng đội đang chờ xe để ra trận, một phút chậm trễ là thêm bao nhiêu máu của anh em phải đổ. Tôi chẳng nghĩ gì đến mạng sống của mình, cứ lao vào gầm xe mà sửa, làm sao cho xe chạy được nhanh nhất, êm nhất là tôi mãn nguyện rồi.”
Trong một cuộc phỏng vấn với Báo Thái Nguyên, khi hồi tưởng sâu hơn về những chuỗi ngày gian khổ tại xưởng sửa chữa giữa rừng sâu, ông bùi ngùi kể thêm:
“Thời ấy thiếu thốn đủ thứ, vũ khí, máy móc đều rất quý. Chưa sửa xong là ai cũng áy náy, suy nghĩ, thức đêm thức hôm để tìm cách làm. Ngày ấy thương nhau lắm. Nấu cơm xong, ai bận việc thì ăn sau, mà lạ là người ăn sau lại thường no nhất, vì người ăn trước không dám ăn no, sợ phần sau thiếu. Về sau phải thống nhất chia phần để không ai bị đói.”
Với những cống hiến thầm lặng nhưng có ý nghĩa sống còn đối với cục diện chiến trường, năm 1973, ông Nguyễn Văn Tấn vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân khi mới bước sang tuổi 31. Đó là sự ghi nhận xứng đáng cho người chiến sĩ có đôi bàn tay vàng và một trái tim can trường.
Chiến tranh lùi xa, người anh hùng năm nào trở về với cuộc sống đời thường tại Thái Nguyên. Dù mái tóc đã bạc phơ theo năm tháng, ông vẫn giữ nguyên vẹn phẩm chất giản dị, chất phác của người lính cụ Hồ. Ông tích cực tham gia các hoạt động xã hội tại địa phương, là tấm gương sáng cho con cháu và thế hệ trẻ soi vào.
Khi được các phóng viên và thế hệ trẻ đến thăm, hỏi về danh hiệu Anh hùng lẫy lừng của mình, ông chỉ cười hiền hậu, xua tay bộc bạch bằng giọng trầm ấm:
“Tôi chưa bao giờ nghĩ mình là anh hùng cả. Anh hùng thật sự là những đồng đội đã ngã xuống, đã gửi lại xương máu nơi chiến trường xa mà đến nay nhiều người vẫn chưa tìm thấy lối về. Tôi may mắn được sống, được nhìn thấy đất nước hòa bình, quê hương đổi mới, đó đã là phần thưởng lớn nhất cuộc đời rồi. Còn chút sức lực nào, tôi vẫn muốn cống hiến để làm đẹp cho mảnh đất Thái Nguyên này.”
Câu chuyện của Anh hùng Nguyễn Văn Tấn là minh chứng rõ nét cho tinh thần chiến trường nào cũng anh dũng, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành. Ông không chỉ là niềm tự hào riêng của người dân Thái Nguyên mà còn là bài học sống động về lòng yêu nước, đức hy sinh thầm lặng cho các thế hệ mai sau. Người lính già ấy, bằng đôi bàn tay từng lấm lem dầu mỡ xe tăng và một tấm lòng son sắt, đã viết nên một huyền thoại sống giữa đời thường.



