Cựu chiến binh

Người trở về và những người còn ở lại

Bài bút ký "Người trở về và những người còn ở lại" tái hiện cuộc gặp gỡ với một cựu chiến binh Thành cổ Quảng Trị, qua đó gợi lên ký ức chiến tranh chân thực, những hy sinh thầm lặng và hành trình chưa khép lại của những người đi tìm đồng đội, người thân. Tác phẩm gửi gắm thông điệp về lòng biết ơn, giá trị của hòa bình và trách nhiệm lưu giữ ký ức dân tộc.

Nghệ An08/07/2026Nguyễn Thị Thuý Ngân (65A2 Sư phạm Ngữ văn_ Trường Sư phạm - Trường Đại học Vinh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

NGƯỜI TRỞ VỀ VÀ NHỮNG NGƯỜI CÒN Ở LẠI

Tôi vẫn luôn tin rằng mỗi con người đều mang trong mình một câu chuyện, chỉ là ta có đủ duyên để lắng nghe hay không. Và có lẽ, cuộc gặp gỡ đáng nhớ nhất của tôi lại bắt đầu trên một chuyến xe ghép bình dị trong dịp nghỉ lễ.

Hôm ấy, tôi trở về quê với chiếc ba lô vẫn còn đầy những tài liệu cho đồ án về Mưa đỏ của nhà văn Chu Lai – tác phẩm viết về 81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Những trang sách tôi vừa đọc vẫn còn in đậm trong tâm trí, khiến tôi không ngừng tự hỏi: điều gì đã giúp những chàng trai tuổi đôi mươi có thể đứng vững giữa mưa bom bão đạn để giữ từng tấc đất của Tổ quốc? Tôi mang theo những băn khoăn ấy lên chuyến xe, chỉ nghĩ sẽ tranh thủ chợp mắt sau những ngày miệt mài với bài nghiên cứu.

Thế nhưng, trước khi kịp mở thêm một trang sách, lịch sử đã tự tìm đến tôi.

Giữa tiếng động cơ đều đều và con đường quen thuộc dẫn về quê, giọng nói trầm khàn của hai người đàn ông phía trước đã vô tình kéo tôi ra khỏi cơn lim dim. Một người là bác cựu chiến binh Nguyễn Hồng Lữ, quê ở xã Cẩm Sơn cũ, nay thuộc xã Nhân Hòa, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An; người còn lại là con trai của một đồng đội cũ của bác. Họ không nói về chiến công, cũng chẳng nhắc đến những điều lớn lao. Họ chỉ thủ thỉ với nhau như những người bạn già đang ôn lại một đoạn đời đã lùi rất xa.

Bác Lữ từng là trung đội trưởng, trực tiếp chỉ huy các chiến sĩ chiến đấu nơi chiến trường Thành cổ Quảng Trị.

Bác kể rằng, đến tận bây giờ, đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, vẫn có những đêm bác giật mình tỉnh giấc vì tiếng bom như còn vọng lại trong ký ức.

"Ngày ấy, đất ở Thành cổ gần như không còn là đất nữa..."

Bác dừng lại rất lâu rồi mới nói tiếp.

"Bom đạn cày xới liên tục. Mỗi mét đất đều hứng biết bao nhiêu đạn pháo. Đồng đội vừa còn ngồi ăn với mình, chớp mắt sau đã nằm lại. Hầm vừa đào xong thì pháo lại đánh sập. Có những lúc không biết mình còn sống hay đã chết."

Tôi từng đọc rằng trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, mảnh đất chỉ rộng vài kilômét vuông ấy đã phải hứng chịu hàng trăm nghìn tấn bom, pháo từ không quân và pháo binh. Thành cổ gần như bị san phẳng hoàn toàn. Nhưng khi nghe bác kể, những con số khô khan ấy bỗng trở thành những hình ảnh rất thật.

Có những ngày, pháo dội xuống dày đặc đến mức người lính không còn phân biệt nổi đâu là ngày, đâu là đêm. Đất đá, khói lửa và mùi thuốc súng quyện vào nhau. Mỗi đợt bom đi qua lại để lại những hố sâu chồng lên hố cũ. Có những người đồng đội vừa lao khỏi công sự đã vĩnh viễn nằm lại. Có người hy sinh đến mức không còn nguyên vẹn hình hài để đồng đội nhận ra. Những người còn sống chỉ kịp nén đau thương, lặng lẽ gom nhặt từng phần thi thể của đồng đội rồi lại tiếp tục cầm súng chiến đấu. Giữa mưa bom bão đạn ấy, điều níu họ đứng vững không chỉ là mệnh lệnh, mà còn là lời hẹn phải giữ bằng được Thành cổ, giữ bằng được từng tấc đất của Tổ quốc.

Bác không kể bằng sự bi lụy.

Bác chỉ kể như đang nhắc về những người bạn cũ.

Có người hôm trước còn hẹn sau hòa bình sẽ cùng về quê uống bát chè xanh.

Có người vừa nhận được lá thư nhà thì chiều hôm ấy hy sinh.

Có người chẳng kịp để lại một tấm ảnh.

Có người đến hôm nay vẫn chưa tìm được một nấm mộ mang tên mình.

Rồi bác kể về quê hương Anh Sơn.

Ngày ấy, mảnh đất bên dòng Lam không chỉ tiễn một vài người con ra trận. Cả một thế hệ thanh niên của quê hương đã khoác ba lô lên đường. Bác bảo rằng mỗi lần đơn vị cần bổ sung lực lượng, bác lại trở về quê tuyển quân. Chưa bao giờ thiếu người.

Chỉ cần có lệnh, hàng chục, hàng trăm thanh niên sẵn sàng rời mái nhà tranh, rời cánh đồng, rời cha mẹ để bước vào nơi mà ai cũng biết là ranh giới giữa sự sống và cái chết. Họ ra đi với lời hẹn sẽ trở về khi đất nước thống nhất. Nhưng không phải ai cũng giữ được lời hẹn ấy. Có người nằm lại giữa lòng Thành cổ. Có người hóa thân vào dòng Thạch Hãn đỏ nặng phù sa. Có người đến tận hôm nay vẫn còn nằm đâu đó giữa núi rừng Quảng Trị. Giọng bác nhỏ dần. Đôi mắt đã hằn sâu dấu vết thời gian bỗng đỏ hoe. "Đau nhất không phải là mình mất một phần cơ thể. Đau nhất là nhiều anh em còn nằm lại đó, đến giờ gia đình vẫn chưa đón được các anh về." Nói đến đây, bác khẽ đặt bàn tay lên phần chân trái đã không còn nguyên vẹn. Chiến tranh đã lấy đi một phần cơ thể của bác. Nhưng có lẽ, điều chiến tranh lấy đi nhiều hơn cả là tuổi xuân của biết bao người lính và hạnh phúc của biết bao gia đình.

Người đàn ông ngồi cạnh bác – con trai của một đồng đội cũ – từ nãy vẫn lặng lẽ lắng nghe. Đôi mắt bác ngấn nước. Bác kể rằng cách đây không lâu, gia đình đã trở lại Quảng Trị để tìm hài cốt người cha đã hy sinh từ những ngày chiến tranh ác liệt. Họ đi suốt nhiều ngày giữa những cánh rừng bạt ngàn. Đi qua những nghĩa trang, những khu quy tập với hàng trăm ngôi mộ, hàng trăm bộ hài cốt vô danh. Mỗi lần nhìn thấy một ngôi mộ chưa có tên, lòng người lại nhen lên một tia hy vọng. Biết đâu... Biết đâu đó là cha mình. Nhưng rồi chuyến đi ấy kết thúc trong lặng lẽ. Cha bác vẫn chưa trở về. Tôi chợt nghĩ đến biết bao người mẹ ở quê nhà đã mòn mỏi chờ con suốt mấy chục năm. Biết bao người vợ đã bạc mái đầu mà vẫn chưa một lần được thắp nén hương trên chính phần mộ của chồng. Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Nhưng với nhiều gia đình, cuộc chia ly ấy dường như vẫn chưa bao giờ kết thúc. Cả chiếc xe khi ấy bỗng im phăng phắc. Không ai nói thêm một lời nào.

Tiếng động cơ vẫn đều đều lăn trên mặt đường. Ngoài cửa kính, những cánh đồng quê xanh mướt trải dài trong nắng đầu hạ. Sự bình yên ấy đẹp biết bao. Và cũng khiến tôi thấm thía hơn bao giờ hết cái giá của hòa bình. Tôi nhìn xuống chân bác mà không biết phải nói gì. Bởi có những mất mát không thể đo đếm bằng lời. Một phần cơ thể có thể thay bằng chân giả. Nhưng những người đồng đội đã nằm lại thì không bao giờ có thể trở về. Điều khiến tôi xúc động nhất không phải là những câu chuyện về bom đạn. Mà là cách bác nhắc đến đồng đội. Trong lời kể của bác không có chiến công để tự hào. Không có những mỹ từ dành cho bản thân. Chỉ có nỗi nhớ dành cho những người đã mãi mãi dừng lại ở tuổi đôi mươi. Có lẽ, với những người lính từng đi qua chiến tranh, ký ức không bao giờ chỉ là ký ức. Nó là những gương mặt không thể quên, là những cái tên mỗi dịp tháng Bảy lại được nhắc đến, là những giấc mơ chưa bao giờ khép lại.

Hơn hai giờ đồng hồ trên chuyến xe ghép trôi qua nhanh hơn tôi tưởng. Khi xe dừng, bác Lữ chống tay bước xuống. Dáng người bác đã không còn nhanh nhẹn, bước chân cũng không còn vững như thuở nào. Nhưng trong mắt tôi, đó vẫn là dáng đứng của một người lính. Tôi chợt nhận ra, chuyến xe hôm ấy không chỉ đưa tôi trở về quê. Nó còn đưa tôi trở về gần hơn với lịch sử.

Trước đó, chiến tranh trong tôi chỉ là những trang sách, những dòng tư liệu và những nhân vật trong Mưa đỏ. Sau cuộc gặp gỡ tình cờ ấy, chiến tranh đã có khuôn mặt, có giọng nói và có cả những khoảng lặng nghẹn ngào của một người lính thật. Tôi hiểu rằng, hòa bình không phải là điều tự nhiên mà có. Mỗi con đường phẳng lặng hôm nay, mỗi mùa lúa chín trên quê hương, mỗi chuyến xe bình yên đưa người ta trở về nhà đều được đánh đổi bằng máu, bằng tuổi trẻ, bằng những phần thân thể đã gửi lại chiến trường và bằng cả cuộc đời của biết bao người lính. Có người đã trở về. Có người chỉ trở về trong ký ức của đồng đội. Và cũng còn biết bao người vẫn đang nằm lại đâu đó giữa đất mẹ Quảng Trị, để những người mẹ, người vợ, người con vẫn lặng lẽ đi tìm sau hơn nửa thế kỷ. Rời chuyến xe hôm ấy, tôi mang theo nhiều hơn cả một câu chuyện. Tôi mang theo một lời nhắc nhở rằng lịch sử không chỉ nằm trong sách giáo khoa hay những trang văn. Lịch sử đôi khi ngồi ngay bên cạnh ta trên một chuyến xe về quê, kể lại bằng giọng nói mộc mạc của một người lính già. Để rồi tôi hiểu rằng, ký ức về những năm tháng hoa lửa không chỉ thuộc về quá khứ. Nó còn là trách nhiệm của những người trẻ hôm nay – trách nhiệm lắng nghe, ghi nhớ và kể lại, để sự hy sinh của một thế hệ không bao giờ bị thời gian phủ bụi. Bởi chừng nào những câu chuyện thời hoa lửa vẫn còn được nhắc đến bằng tất cả lòng biết ơn và sự trân trọng, chừng đó những người đã ngã xuống vẫn sẽ còn sống mãi trong trái tim của dân tộc. Mình đọc lại nhiều lần và có một cảm giác rất đặc biệt: bài này giống một bài bút ký hơn là một bài cảm nhận, nhưng mình nghĩ vẫn còn có thể "nâng" thêm một bậc nữa.

Chính cuộc trò chuyện tưởng chừng rất đỗi bình thường ấy đã đưa tôi bước vào một miền ký ức không khói bụi nào của hiện tại có thể xóa nhòa – ký ức về những năm tháng hoa lửa, về những người lính đã gửi lại tuổi xuân nơi Thành cổ Quảng Trị và về những cuộc chia ly mà hơn nửa thế kỷ trôi qua vẫn chưa thể khép lại. Có một điều mình muốn nói thêm. Khi đọc xong toàn bộ bài, mình cảm giác điều đắt giá nhất không phải câu chuyện chiến tranh, mà là "cái duyên" của cuộc gặp gỡ.

Đến hôm nay, tôi vẫn biết ơn chuyến xe ghép năm ấy. Bởi nếu không có cuộc gặp gỡ tình cờ ấy, có lẽ tôi sẽ chỉ hiểu chiến tranh bằng những con số và những trang sách. Còn bây giờ, mỗi lần nhắc đến Thành cổ Quảng Trị, tôi lại nhớ đến giọng kể trầm khàn của bác Nguyễn Hồng Lữ, nhớ ánh mắt ngấn lệ của người con đi tìm hài cốt cha mình và hiểu rằng: có những câu chuyện không chỉ cần được viết ra, mà còn cần được truyền lại. Bởi khi ký ức còn được gìn giữ, những người đã ngã xuống sẽ không bao giờ bị lãng quên.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Người trở về và những người còn ở lại | Câu chuyện thời hoa lửa