Người tù cách mạng nhường nhau tất cả, chỉ "giành" khó khăn về mình
Bà Trương Mỹ Hoa bị chính quyền ngụy bắt ngày 15/4/1964, khi mới 19 tuổi trong lúc cùng đồng đội đang mang tài liệu đi vận động học sinh, sinh viên chống lại âm mưu bắt đi lính.
Hơn bốn tháng trời, chúng tra tấn bà bằng đủ mọi ngón đòn dã man nhất, như đóng đinh mười ngón tay, treo lên xà nhà, dùng gậy đánh qua đánh lại, tra điện, cán nước, quất roi vào mặt… nhưng bà kiên quyết không khai, không nhận tội, không chịu chào cờ của chính quyền Sài Gòn, không thực hiện các nội quy nhà giam. Sau gần năm tháng tra khảo mà không lấy được thông tin gì, chính quyền ngụy đưa bà ra tòa xét xử với tội danh phá rối cuộc trị an và kết án 18 tháng tù.
“Nhưng tuyên án là một chuyện, việc trả tự do cho tù chính trị là một chuyện khác. Đó chỉ là chính sách dân chủ giả hiệu, mị dân của chính quyền ngụy. Bởi tôi chống đối việc chào cờ ngụy, chống đả đảo cộng sản…, chúng cho là loại ngoan cố, ‘cứng đầu cứng cổ’ nên phải cho ở tù rục xương, dù chỉ có mức án 18 tháng, chúng đã giam giữ tôi tù ròng rã suốt 11 năm”, bà Hoa cho hay.
Nhiều nhà lao của chế độ ngụy quyền là nơi bà Hoa từng bị giam giữ, từ Tổng nha Cảnh sát đến Đề lao Gia Định, các trại giam Thủ Đức, Chí Hòa, Tân Hiệp, rồi hai lần bị đày ra nhà tù Côn Đảo - nơi được coi là địa ngục trần gian.
“Ở trong tù, nhục hình tra tấn thì không biết bao nhiêu mà kể. Chốn lao tù rất khắc nghiệt và gian khổ, đày đọa thân xác người tù. Không giết chết được sinh mạng chính trị của người tù, giặc tìm cách bóp siết cuộc sống, hành hạ thể xác của họ, để người tù có thể chết dần chết mòn trong lúc bị giam cầm”, bà hồi tưởng.
Bà Trương Mỹ Hoa trải lòng, cuộc sống ở trong tù rất gian khổ, người tù phải đấu tranh “ở trong lòng của trong lòng của kẻ thù”.
Bà kể lại: “Trong tù, chúng tôi đấu tranh với địch, đòi quyền dân sinh, dân chủ, cải thiện chế độ ăn ở khắc nghiệt trong lao tù. Ở trong chuồng cọp Côn Đảo, địch nhốt 1 chuồng 5 người, chật hẹp, thiếu thốn với chính sách 'tù trị tù' man rợ. Khi chúng tôi mới chống chào cờ ngụy, thì địch giam riêng, xé lẻ để dễ khủng bố, làm lung lay ý chí của người tù. Thời gian thử thách 2-3 năm, thấy không khuất phục được, chúng tôi vẫn giữ vững lập trường chống đối, địch mới 'chịu thua' cho giam chung. Đến sau Tết Mậu Thân 1968, phong trào cách mạng bên ngoài đánh mạnh, khí thế tấn công hừng hực từ ngoài mang theo vào trại giam. Phần lớn chị em mới bị bắt đều chủ động chống chào cờ tập thể. Và phong trào chống chào cờ ngụy trong tù ngày càng dâng cao, khiến địch bắt buộc phải giam chung. Lúc đó, mỗi phòng giam chung từ 20 người, có khi lên tới 50, 60 người. Vì vậy, chúng tôi có điều kiện tổ chức cuộc sống nề nếp, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, tổ chức học tập chính trị, học làm bích báo, làm thơ, chữa bệnh, học nữ công gia chánh, thêu may, thậm chí học quân sự... Trừ những lúc phải tranh đấu, hoạt động trong tù lúc bấy giờ rất phong phú, đa dạng, người biết dạy cho người chưa biết, phát huy hết khả năng tập thể, không ai lãng phí thời gian. Nhà tù cũng là một trường học lớn với những người tù chính trị chúng tôi”.
“Trong tù, dù gian khổ hy sinh nhưng chúng tôi vẫn thấy cuộc sống rất đẹp nhờ được sống bên cạnh những người cùng chí hướng. Chị em có thể đến từ những vùng miền khác nhau, nhưng sống chung rồi thì như người một nhà, đoàn kết, thương yêu. Trong nhà lao, những người tù chính trị cái gì cũng nhường nhau, từ chỗ nằm, từng giọt nước, viên thuốc, hay ánh nắng xuyên vô xà lim tối, chia sẻ vui buồn hay nỗi đau thầm lặng... Chúng tôi chỉ có một thứ để giành nhau, đó là ‘giành’ cái khó, cái khổ, cái thiệt thòi về mình”, bà Hoa rưng rưng nhớ lại.
Khi Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết vào tháng 1/1973, tại điều 14C của Hiệp định, chính quyền ngụy chỉ thừa nhận có 5.081 tù chính trị toàn miền nam, trong khi thực tế, toàn miền nam có gần 200.000 tù chính trị. Vì vậy, chỉ một số ít được trao trả, còn rất nhiều tù chính trị khác bị địch giữ lại.
Để đối phó sự dối trá của mình, chính quyền ngụy có âm mưu thâm độc, bắt tù chính trị lăn tay, chụp hình dựng hồ sơ giả, biến tội danh của tù chính trị thành tù “gian nhân hiệp đảng”, tức tù cướp của, giết người…
Nhằm bẻ gãy âm mưu của địch, ở Côn Đảo, những người tù chính trị đã có kế hoạch đấu tranh chống lăn tay chụp hình, tráo án chính trị thành tù thường phạm.
Khoảng tháng 6/1973, địch đàn áp ném lựu đạn cay khiến mọi người xỉu hết, rồi lôi chị em ra lăn tay, chụp hình. Nhưng chúng không thể thực hiện được âm mưu bởi đường vân tay của những nữ tù chính trị đã bị mài mòn dưới nền xi-măng nhám của trại giam. Còn lúc chụp ảnh, chị em tù chính trị nhắm mắt, há họng, khiến chúng không thể lấy được hình ảnh để làm hồ sơ tráo án.
Âm mưu thất bại, địch quay sang đánh đập, tra tấn dữ dội các nữ tù nhân, với nhiều ngón đòn ác hiểm nhất bằng ma trắc, roi mây, roi gân bò... Phần lớn các chị bị đánh mình mẩy bầm tím, khiến hơn tháng trời không mặc quần áo được. Với thủ đoạn tàn khốc đó, ngay cả bên trại nam đã có một số anh hy sinh.
Đầu năm 1975, phong trào đấu tranh của các lực lượng hòa bình tiến bộ trên thế giới, của nhân dân ta cũng như của chính những tù nhân chính trị trong các nhà lao dâng cao mạnh mẽ.
Để xoa dịu các phong trào đấu tranh lúc bấy giờ, chính quyền ngụy buộc phải thả một số tù nhân chính trị vô điều kiện, và bà Trương Mỹ Hoa là một trong những người được trả tự do vào tháng 3/1975.
Ngày rời nhà lao, bà Hoa được đưa về căn cứ Củ Chi, rồi Dầu Tiếng (Bình Dương) và gặp ngay tổ chức. Lúc bấy giờ, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 diễn biến rất nhanh. Bà Trương Mỹ Hoa được lệnh trở về cơ quan của mình ở Thành Đoàn, cùng đồng đội xuống đường hòa vào mũi tiến công của Thành Đoàn về chiếm lĩnh các mục tiêu ở Gia Định.
Đúng ngày 30/4/1975, đoàn về tới Sài Gòn, sau một chặng đường dài hành quân từ Bến Cát (Bình Dương), qua Củ Chi, vừa đi vừa tổ chức học tập theo điều lệnh chung của Chiến dịch.
Rồi khoảnh khắc mong chờ nhất đã đến. Bà Hoa nhớ như in: “Trưa 30/4, đoàn đang ở một ngã ba đường từ Hóc Môn về Thành phố. Dưới bóng mát của một bụi tre, qua đài phát thanh, chúng tôi nghe được tin chiến thắng, Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Mọi người trong đoàn mừng rỡ reo hò, có anh còn hô to: ‘Bác Hồ ơi, miền nam giải phóng rồi!’. Thật cảm động”.
Sau ngày thống nhất đất nước, bà Trương Mỹ Hoa tham gia công tác tiếp quản Sài Gòn, góp sức vào công cuộc xây dựng và tái thiết thành phố nhiều năm sau đó.
Từ một người tù chính trị trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, trải qua hơn 60 năm công tác và chiến đấu, bà Trương Mỹ Hoa đã đảm nhiệm nhiều cương vị lãnh đạo quan trọng của Đảng, Nhà nước.
Bà từng là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam; Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội; Phó Chủ tịch nước. Với những cống hiến xuất sắc ấy, bà xứng đáng là một tấm gương điển hình của người phụ nữ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.


