Người tù không ly khai, không bao giờ phản lại Bác Hồ
Luật 10/59 mà chế độ Mỹ – Diệm thi hành ở miền Nam Việt Nam từ năm 1959 đã đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, nhưng ngay trong bộ máy bạo lực của hệ thống nhà tù kiểm sát gắt gao như nhà tù Côn Đảo vẫn sừng sững một Trại cộng sản không chịu thừa nhận chế độ “quốc gia”, không nghe bôi nhọ Bác Hồ. Nhiều phái đoàn, kể cả Bộ trưởng Nội vụ chính quyền Việt Nam Cộng hòa là Lâm Lễ Trinh cũng đã đích thân ra Côn Đảo để nghiên cứu tình hình. Còn Trại cộng sản là chúng ăn không ngon, ngủ không yên, chúng chia cắt, cô lập triệt để, khủng bố quyết liệt hơn trước nhằm xóa sổ Trại cộng sản.
Ngày 15/7/1959, địch dời lao. Bọn trật tự, công an áp tải đoàn tù bằng gậy suốt chặng đường hơn 1km về lao mới. Người tù động viên nhau giữ vững đội ngũ và hô vang các khẩu hiệu: “Phản đối khủng bố. Phản đối đánh đập cưỡng bức ly khai! Hồ Chủ tịch muôn năm! Đảng Lao động Việt Nam muôn năm! Tinh thần đấu tranh của tù nhân Lao I bất diệt!”.
Hơn 1000 tù nhân Trại cộng sản bị địch chia cắt giam làm ba nơi: Lao III, Lao IV và Chuồng Cọp. Khi nhốt tù nhân vào lao mới, địch khám xét rất kỹ. Chúng phát hiện trong đáy giỏ quần áo anh Hai Quan có bức thêu hình Bác Hồ, do chính tay anh thêu trên vuông vải trắng từ nhà lao Tân Hiệp (Đồng Nai). Anh đã giữ được hơn ba năm, qua bao lần khám xét. Cứ đến ngày 19/5 hàng năm là anh giở hình ra ngắm và thầm hứa với Bác sẽ một lòng một dạ trung thành, không bao giờ khuất phục. Nghe lao trưởng báo cáo xét được ảnh Bác Hồ, tỉnh trưởng Bạch Văn Bốn liền đến cửa khám quát: “Ai đưa hình Hồ Chí Minh cho mày?” Anh trả lời: “Hình lãnh tụ tôi, tôi thêu, tôi giữ, đâu phải ai đưa”. Bọn trật tự xúm vào đánh anh Hai Quan ngất đi và phạt công cơm lạt một tháng ở Chuồng Cọp. Trở về phòng anh cứ xuýt xoa tiếc mãi. Anh định giữ bức thêu cho đến ngày độc lập, sẽ gửi ra tặng Bác.
Sau ba đợt tuyệt thực liên tiếp của bốn anh: An (tức Hùng), Bảo, Bào, Lành trong vòng một tháng, các khám đều lần lượt tuyệt thực đòi dân sinh và dân chủ. Ngay trong tuần đầu, tỉnh trưởng Bạch Văn Bốn tập trung lực lượng đàn áp các khám Lao IV và khám 6 Lao III. Bọn trật tự, công an đánh đến nát cả khúc mây tầm vông rồi kéo từng người ra sân đánh thêm. Ai chịu ăn chúng nhốt riêng, ai không chịu ăn thì đưa xuống Chuồng Cọp.
Hàng trăm tù nhân câu tay thành một khối chống địch xé lẻ, người khỏe bao bọc vòng ngoài đỡ đòn cho người yếu và hô các khẩu hiệu: “Đả đảo khủng bố! Hồ Chí Minh muôn năm!” Cuộc tuyệt thực kết thúc thắng lợi, địch trả những người đã bị đưa xuống Chuồng Cọp về khám. Riêng bốn anh Ân, Bảo, Bào, Lành chúng cho là cầm đầu cho nên vẫn biệt lập tại Chuồng Cọp. Các anh tiếp tục tuyệt thực cho đến ngày 02/9/1959 mới kết thúc đợt đấu tranh, tổng cộng 34 ngày. Các anh là lớp người mở đầu những trang sử đấu tranh của tù nhân tại Chuồng Cọp Côn Đảo trong thời kỳ này(4).
Năm 1962, nhà tù Côn Đảo có “Khu tu dưỡng” thuộc Trại cộng hòa (tức Banh I) nhốt khoảng 150 tử tù, chia thành ba loại: Loại I gọi là “Chính trị quốc gia”, bao gồm những người theo các giáo phái Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo chống Diệm, bị xử tử hình được nhốt riêng theo chế độ đặc biệt ở phòng 3; Loại II là “quân phạm, thường an”, bao gồm những người phạm vào các tội danh thường an, phần lớn là người ở trong quân đội ngụy; Loại III là “chính trị cộng sản”, bao gồm tất cả tử tù có ít nhiều dính líu đến cách mạng, trong đó có người hoàn toàn không biết cách mạng là gì cả nhưng bị ngụy quyền bắt và tra tấn cho đến lúc phải nhận là đứng trong tổ chức của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Cả hai loại II và III được nhốt trong phòng 2 và sau đó thêm phòng 4.
Nhân dịp mừng Ngô Đình Diệm được tái cử Tổng thống Việt Nam Cộng hòa được một năm, quản đốc nhà tù đưa một số bánh mỳ chở từ đất liền ra phát cho tù ăn thay cơm. Một số bánh mỳ tốt thì cho cai ngục, số bánh mì phát cho tù loại I (“chính trị quốc gia”) cũng thuộc loại tốt còn số phát cho phòng 2 (Loại II thường án và loại III cộng sản) đều bị mốc thếch, ruột xanh. Anh em tù ban đầu đều không ăn, đem trả lại và đòi đổi bánh mỳ tốt hoặc cơm như thường lệ. Giám thị trưởng nói do đây là ngày vui mừng của cả nước, quản đốc đã có lòng tốt đãi tiệc tù nhân, vì vậy khi ngài tỉnh trưởng đến thì phải “cung kính lễ độ” và nhớ hô 2 khẩu hiệu “Ủng hộ tổng thống Ngô Đình Diệm” và “Đả đảo cộng sản Hồ Chí Minh”. Một cuộc hội ý chớp khoáng diễn ra trong phòng 2 nhưng không khí trở nên căng thẳng khi một số tù thường án chuẩn bị đón tiếp tỉnh trưởng theo lễ nghi, còn số tù cộng sản thì công khai chống lại việc hô khẩu hiệu.Theo quy định nghiêm ngặt của nhà tù Côn Đảo, không chỉ tù tử hình ở trong phòng cấm bị bắt buộc phải hô khẩu hiệu mà tất cả những tù khổ sai khác đều phải hô mỗi khi gặp bọn quản đốc, tỉnh trưởng hoặc tỉnh phó. Ai không hô thì bị đánh cho đến chết.
Khi những lời hô từ ngoài cổng trại vọng vào, số tù thường án đã chen nhau chạy ra cửa phòng, nghiêm chỉnh xếp hàng và tung hô luôn miệng. Tất cả số tù cộng sản đều ngồi trên sàn xi măng, nhìn trân trân vào tên tỉnh trưởng. Hắn chỉ vào anh Ngô Bá Cao, nguyên là Bí thư Tỉnh ủy Thủ Biên (Trong kháng chiến, tỉnh Thủ Dầu Một và tỉnh Biên Hòa được ghép thành một đơn vị hành chính) và nói “mày là Ngô Bá Cao, tỉnh trưởng Việt Cộng hả? Tại sao mày không chào hỏi tao? Bây giờ tao bắt mày nói “Đả đảo cộng sản Hồ Chí Minh”. Ngô Bá Cao đã kiên cường trả lời “Chủ nghĩa cộng sản là lý tưởng của đời tôi, Bác Hồ là người tôi đã thề suốt đời phấn đấu đi theo Người, làm sao tôi có thể đả đảo được…”. Sau nhiều lần bị đánh đập, anh Bá Cao bị đem xuống Hầm Đá, còng chân, còng tay, khớp miệng và cứ hàng giờ chúng lại dội nước cho thân anh lạnh, da mặt tái xám lại. Cứ thế chúng hành hạ anh cho đến chết đi sống lại, mục đích không phải giết chết anh mà là muốn giết chết sinh mạng chính trị của anh…Nhưng anh Ngô Bá Cao không chết trong nhà tù Côn Đảo vì có sự giúp đỡ của nhiều đồng bào, đồng chí. Sau khi được ra tù anh đã được cử đi học Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc(5). Câu chuyện về anh được lưu truyền mãi, tiêu biểu cho khí tiết của những người tù chính trị Côn Đảo: Trong cảnh sống đọa đày về cả tinh thần và thể xác, phải có một lẽ sống cao quý, một giá trị thiêng liêng mà người ta sẵn sàng bảo vệ bằng cả cuộc đời mình. Khi đấu tranh giữa cái sống và cái chết là người tù nghĩ đến Bác, được tiếp thêm sức mạnh từ Bác để chiến thắng kẻ thù!



