Người viết huyền thoại trong những trận đánh oai hùng
Vũ Thị Ánh Nguyệt
Có những vị tướng được nhớ bằng một trận đánh. Có những người được nhắc tên cùng cả một chiến dịch. Nhưng với Đại tướng Lê Trọng Tấn, dấu ấn đặc biệt nằm ở hai thời khắc cách nhau hơn hai thập kỷ: Điện Biên Phủ năm 1954 và Dinh Độc Lập năm 1975. Người ta gọi ông là “tướng trận”, “tướng tấn công” – một vị tướng thường có mặt ở những chiến trường gai góc và quyết liệt nhất.
Đại tướng Lê Trọng Tấn tên thật là Lê Trọng Tố, sinh năm 1914 tại làng Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, trong một gia đình nông dân yêu nước.
Ngay từ những ngày đầu tham gia cách mạng, ông đã bộc lộ khả năng tổ chức và tư duy quân sự. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông được giao làm Ủy viên phụ trách quân sự trong Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Hà Đông. Từ một cán bộ quân sự trong những ngày đầu cách mạng, ông từng bước trưởng thành qua chiến trường, trở thành Đại đoàn trưởng, rồi những cương vị chỉ huy cao hơn trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Him Lam – nơi vị tướng bước vào lịch sử
Năm 1954, trên cương vị Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312, Lê Trọng Tấn được giao chỉ huy một trong những hướng tiến công chủ yếu của Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Sau khi phương châm tác chiến chuyển từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, Đại đoàn 312 được giao nhiệm vụ tiến công cứ điểm Him Lam – vị trí phòng ngự kiên cố, án ngữ cửa ngõ phía Đông Bắc tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Trận đánh mở màn diễn ra quyết liệt. Đại đoàn 312 phải xuyên qua hệ thống phòng ngự nhiều tầng của quân Pháp, từng bước áp sát, chia cắt và tiêu diệt các cứ điểm.
Lê Trọng Tấn chỉ đạo bộ đội xây dựng hệ thống hào giao thông, tổ chức thế trận bao vây, thực hiện phương pháp “đánh bóc vỏ”, “đánh từng bước”, vận dụng nguyên tắc “vây, lấn, tấn, triệt, diệt”.
Chiều 7/5/1954, khi thời cơ tổng công kích xuất hiện, một đơn vị của Đại đoàn 312 tiến vào Sở Chỉ huy tập đoàn cứ điểm, bắt sống tướng De Castries cùng toàn bộ Bộ Tham mưu.
Cánh quân do Lê Trọng Tấn chỉ huy đã hoàn thành nhiệm vụ ở hướng Đông, góp phần khép lại Chiến dịch Điện Biên Phủ – chiến thắng được ghi vào lịch sử với tầm vóc “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Hơn 20 năm sau, người chỉ huy năm nào lại xuất hiện ở một trận đánh khác. Lần này, đích đến không còn là Mường Thanh mà là Sài Gòn.
Từ Điện Biên đến Dinh Độc Lập
Trong kháng chiến chống Mỹ, Lê Trọng Tấn tiếp tục có mặt tại nhiều chiến trường lớn. Ông từng chỉ huy hoặc tham gia chỉ đạo các chiến dịch Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng - Dầu Tiếng, Đường 9 - Nam Lào, Trị - Thiên, Đà Nẵng…
Đầu năm 1975, ông được giao làm Tổ trưởng Tổ Trung tâm giúp Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng nghiên cứu, xây dựng kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam.
Trong quá trình nghiên cứu, ông đề xuất tập trung lực lượng mở những chiến dịch tiêu diệt lớn, lần lượt đánh vào những tập đoàn chiến lược quan trọng của đối phương, tạo thế cho trận quyết chiến cuối cùng ở Sài Gòn. Đòn đánh vào Buôn Ma Thuột, tiếp đó là đánh tan lực lượng Quân khu 1 - Quân đoàn 1 của đối phương và cuối cùng là trận quyết chiến tại Sài Gòn trở thành những mắt xích trong thế trận tổng thể.
Ngày 5/4/1975, Trung tướng Lê Trọng Tấn đề nghị thành lập Cánh quân Duyên Hải, gồm Quân đoàn 2 và Sư đoàn 3 Quân khu 5, nhằm phá vỡ tuyến phòng thủ ven biển miền Trung, mở thông Đường số 1 – con đường huyết mạch hướng về Sài Gòn.
Chỉ ít ngày sau, ông quyết định chuyển từ cách đánh “cuốn chiếu” sang “tiến công trong hành tiến”. Những mũi đột kích nhanh chóng xuyên thủng hệ thống phòng ngự của đối phương, đập tan tuyến phòng thủ Phan Rang, bắt Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, rồi tiếp tục phát triển về hướng Sài Gòn.
Ngày 22/4/1975, Lê Trọng Tấn được bổ sung làm Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, kiêm Tư lệnh Cánh quân hướng Đông.
Ông đề nghị mở đầu trận tổng tiến công vào Sài Gòn từ 18 giờ ngày 29/4/1975. Cánh quân hướng Đông trở thành lực lượng khai hỏa đầu tiên, nhanh chóng phá vỡ các tuyến phòng ngự, tiến vào nội đô.
Và rồi, sau hơn hai thập kỷ kể từ ngày người Đại đoàn trưởng 312 tiến vào Sở Chỉ huy Điện Biên Phủ, một cánh quân khác dưới quyền chỉ huy của ông tiến vào Dinh Độc Lập.
Chiến tranh kết thúc.
Một đời ở nơi quyết chiến
Từ Điện Biên Phủ đến Sài Gòn, từ những chiến hào Tây Bắc đến những tuyến phòng ngự cuối cùng của đối phương, dấu ấn Lê Trọng Tấn luôn gắn với những thời khắc quyết định.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, riêng cánh quân phía Đông và Đông Nam đã tiêu diệt, bắt sống hoặc làm tan rã hơn 20.000 quân địch, tiêu diệt và làm tan rã 4 thiết đoàn xe tăng, xe bọc thép, 4 liên giang đoàn tàu thuyền chiến đấu, bắn rơi và bắn cháy 23 máy bay, thu giữ, phá hủy hàng trăm khẩu pháo cùng nhiều phương tiện chiến tranh.
Những con số ấy phản ánh quy mô của một chiến dịch. Nhưng phía sau nó là tư duy của những người chỉ huy biết nhìn xa hơn từng trận đánh.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng đánh giá Lê Trọng Tấn là một trong những tư lệnh chiến dịch, chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng giỏi nhất của quân đội ta.
Sau chiến tranh, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách, trong đó có cương vị Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Từ Điện Biên Phủ năm 1954, Sài Gòn - Gia Định năm 1975 đến những chiến trường biên giới sau này, cuộc đời quân ngũ của ông gắn liền với những bước phát triển quan trọng của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Lê Trọng Tấn không phải người chỉ huy đứng ngoài chiến trường để nhìn trận đánh qua bản đồ. Ông trưởng thành từ chiến đấu, đi qua những trận đánh khốc liệt nhất và để lại dấu ấn ở những thời điểm lịch sử quan trọng nhất.
Hai mươi mốt năm sau Him Lam, người ta lại thấy ông ở hướng Đông của Sài Gòn.
Một lần tiến vào trung tâm Mường Thanh. Một lần tiến vào Dinh Độc Lập.
Hai trận đánh cách nhau 21 năm, nhưng cùng ghi dấu một vị tướng của những cuộc tiến công quyết định.
Và có lẽ, đó cũng là lý do cái tên Lê Trọng Tấn còn được nhắc đến như một “tướng trận” – người mà sự nghiệp quân sự không chỉ được đo bằng những cấp hàm hay chức vụ, mà bằng những thời khắc ông có mặt khi lịch sử cần một quyết định táo bạo, chính xác và quyết đoán.


