Bài viết

Người viết lịch sử Đảng trong tù

Người viết lịch sử Đảng trong tù

Tây Ninh21/04/2026Đoàn xã Vĩnh Châu (Đoàn xã Vĩnh Châu)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Người viết lịch sử Đảng trong tù

* TRẦN THANH HẰNG

Chặng đường 50 năm theo Đảng và hoạt động của Trung tướng - cựu Bộ trưởng Bộ Thương binh và xã hội Lê Hiến Mai, ngoài những trận đánh, có ba điều ông nhớ nhất: được Bác Hồ đặt tên, được ông Lê Đức Thọ làm mai mối và là người đã viết cuốn lịch sử Đảng Cộng sản Đông Dương trong tù.

Viết lịch sử Đảng trong tù

Trung tướng Lê Hiến Mai có tên thật là Nguyễn Văn Phường, sinh ngày 23 tháng 11 năm 1918, quê ở xã Trạch Mỹ Lộc, huyện Tùng Thiện, tỉnh Sơn Tây cũ (nay là xã Trạch Mỹ Lộc, huyện Phúc Thọ, Hà Nội). Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình đến khi ông qua đời ngày 10 tháng 11 năm 1992, ông lần lượt giữ những cương vị: Quân khu uỷ viên Phân khu Tuyên Thái, phái viên Tổng Bộ Việt Minh; Phái viên chính trị Giải phóng quân phụ trách Mặt trận Sầm Nưa, Xiêng Khoảng; Chính trị viên Trung đoàn, Bí thư Trung đoàn uỷ; Tham mưu trưởng kiêm Chính uỷ Chiến khu 2, Bíthư Quân khu uỷ kiêm Chính uỷ Trường Bổ túc Quân uỷ

hội, Uỷ viên Thường vụ Khu uỷ 2; Chính uỷ Mặt trận Tây tiến; Chính uỷ Liên khu 1, Phó Bí thư Quân khu uỷ, Uỷ viên Thường vụ Liên khu uỷ 1; Chính uỷ Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Phó Bí thư xứ uỷ; Phó Tư lệnh Nam Bộ, kiêm Phó Tư lệnh Phân khu Miền Đông Nam Bộ, Khu uỷ viên Miền Đông Nam Bộ; Tư lệnh Miền Tây Nam Bộ, Bí thư Quân khu uỷ, Thường vụ Khu uỷ miền Tây Nam Bộ; Chính uỷ kiêm Bí thư Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Pháo binh; Bộ trưởng Bộ Thuỷ Lợi và Điện lực, Bí thư Đảng Đoàn Bộ; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp, Bí thư Đảng Đoàn; Uỷ viên Quân uỷ Trung ương, Bí thư, Chính uỷ Quân khu 4; Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Uỷ viên Thường trực Quân uỷ Trung ương, kiêm Giám đốc Học viện Chính trị, kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bí thư Đảng Đoàn Bộ (sau là Bộ Thương Binh và Xã hội). Ông được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà phong quân hàm thiếu tướng năm 1948; trung tướng tháng 6 năm 1971. Tháng 12 năm 1976, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, giữ chức Bộ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội, kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Điều tra tội ác chiến tranh xâm lược.

Ông là đại biểu Quốc hội các khoá III, V, VI, VII, được Đảng Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân chương cao quý khác.

Cho dù bôn ba, hoạt động ở nhiều nơi nhưng ông luôn nhớ về quê hương của mình. Làng ông cách làng của trạng Phùng Khắc Khoan vài giờ đi bộ. Sinh ra trong một gia đình trung nông giàu có nhưng mới lên 4 tuổi, cha mất, ông sang ở với bác, được bác nuôi ăn học. Năm 18 tuổi, ông đi dạy học để tự nuôi thân. “Chính tuổi thơ dữ dội” của ông ấy, đã lay động trái tim tôi”. Bà Ngô Duy Liên vợ ông nhớ lại.

Năm 1939, Phường tình cờ gặp nhà cách mạng Phan Trọng Tuệ, được nhà cách mạng này giác ngộ, dìu dắt, từ đó cuộc đời của Phường rẽ sang một con đường mới- làm cách mạng.

Năm 1941, trong một lần đi hoạt động gây cơ sở, Phường bị đế quốc Pháp bắt. Chúng giam ông ở Sơn Tây rồi đưa ra Hà Nội. Năm 1942, ông bị đưa đi đày ở Sơn La. Tại nhà tù Sơn La, ông gặp các bạn tù là các đồng chí: Song Hào, Trần Thế Môn, Nhị Quý, Lê Trung Đình... Mặc dù trong điều kiện bị giam cầm, tra tấn, nhân kỷ niệm 12 năm ngày thành Đảng Cộng sản Đông Dương (3/2/1942), anh em trong tù vẫn gom góp những tờ giấy bé bằng bàn tay, do cơ sở bí mật đưa vào, lấy chỉ đen đóng lại thành cuốn sổ để ghi chép lịch sử Đảng. Chữ Phường đẹp lại “văn” hay, nên được chi bộ chọn là người chắp bút, ghi lại lược sử Đảng Cộng sản Đông Dương.

Tháng 8 năm 1967, khi ông được bổ nhiệm giữ chức Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Uỷ viên thường trực Quân uỷ Trung ương, một lần ra thăm Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam), ông đã trao tặng bảo tàng cuốn lược sử Đảng do chính ông viết trong tù.

Cuốn sổ lược sử nhỏ xíu chỉ bằng bao thuốc lá, kích thước 7x9 cm. Tính đến năm 2003, cuốn lược sử Đảng mà tướng Mai viết trong tù đã ở “tuổi” 67, thời gian đã làm giấy ố nhoè, các góc sờn mủn nhưng nét chữ rắn rỏi viết bằng mực xanh vẫn còn rõ chữ, thẳng hàng, đều tăm tắp. Đáng ngạc nhiên, nội dung cuốn sổ là cả một pho lịch sử Đảng Cộng sản Đông Dương từ khi thành lập đến khi Đảng 12 tuổi, được khái quát trên 50 trang giấy nhỏ viết tay, mà lại được viết trong hoàn cảnh cầm tù. Không có vết tẩy xoá, gạch chữ chứng tỏ người viết nghiền ngẫm rất kỹ, thuộc lòng từng chữ khi viết ra.

Trong phần thứ VII với tựa đề: “Thời kỳ mới và nhiệm vụ mới”, tác giả cuốn lược sử đưa ra những nhận định hết sức sâu sắc: “Không thể coi là đế quốc Pháp ít nguy hiểm hơn phát xít Nhật được. Chiến thuật: “Mặt trận dân chủ” không thích hợp nữa. Với những điều kiện mới mà cứ giữ mãi cái chủ trương ấy là cản trở tranh đấu của dân chúng, là nuôi cho họ một hy vọng hão huyền, còn tin cậy ở đế quốc Pháp".

“Phải thay đổi chiến thuật để đối phó kịp với tình thế mới, phải lãnh đạo dân chúng đấu tranh một trận quyết liệt để phá tan nền thống trị hiện tại. Phải đánh đổ đế quốc Pháp cũng như phải kịch liệt đương đầu với phát xít Nhật. Chiến thuật mới của Đảng ra đời cuối năm 1939, đã trả lời những nhiệm vụ cần kíp và nặng nề ấy. Mục đích của nó là tập hợp hết thảy các tầng lớp dân chúng, các phần tử thành thật chống đế quốc, không phân biệt đảng phái, giai cấp, tôn giáo chung quanh một Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế, đồng thời nổi dậy đánh đổ đế quốc Pháp và phát xít Nhật ở Đông Dương và thành lập một Chính phủ dân chủ thống nhất Đông dương...".

“Tình hình thế giới và trong xứ đã thay đổi, chiến thuật của Đảng đã thay đổi thì công tác của Đảng nghĩa là các phương pháp vận động tuyên truyền, tổ chức tranh đấu cũng phải theo đó mà chuyển hướng cho thích hợp... Đồng thời cũng phải vạch rõ cho dân chúng biết Đảng là kẻ tranh đấu kiên quyết nhất cho quyền lợi của toàn thể dân tộc, là đội tiền phong anh dũng duy nhất của cuộc vận động dân tộc giải phóng...”

Trong phần kết luận, những trang cuối cuốn sổ ghi rõ: “Sau 12 năm thành lập trên con đường tranh đấu đầy hiểm trở gay go, Đảng Cộng sản Đông Dương đã tỏ ra xứng đáng là

đội tiền phong anh dũng, là Bộ tham mưu sáng suốt duy nhất của vô sản giai cấp mặc dầu nó còn nhiều khuyết điểm. Hơn nữa, nó đã tỏ ra là người lãnh đạo cương quyết hơn hết, đủ năng lực bênh vực quyền lợi cho toàn thể dân tộc Đông Dương tranh đấu chống đế quốc và phong kiến đem lại tự do, độc lập cho Tổ quốc... Đảng cộng sản là con đẻ của vô sản giai cấp. Nó đã sinh trưởng và phát triển trong những cuộc tranh đấu của vô sản và của dân chúng chống đế quốc và phong kiến. Nguyện vọng của nó là nguyện vọng của dân chúng...

Ngày 11 tháng 10 năm 1944, ông cùng 12 đồng chí được đồng chí Song Hào tổ chức vượt ngục. Cuốn sổ lược sử này ông giữ lại làm kỷ niệm, mang theo trong suốt thời gian công tác tại Việt Bắc, dùng làm tài liệu học tập, tuyên truyền.

Được Bác Hồ đặt tên

Chuyện kể rằng, trong đợt phong quân hàm cấp tướng của nước ta đợt đầu tiên năm 1948 có 12 vị. Trong số các vị tướng được phong hồi đó, duy nhất có thiếu tướng Phường bị răng hô, mọi người trêu đùa ông là “mái hiên”. Biết chuyện, Bác cho gọi chú “mái hiên” lên, rồi đặt tên cho ông theo chữ nói ngược từ “mái hiên” là “Hiến Mai". Nghe Bác nói xong, ông thích luôn. Từ đó cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, ông chỉ dùng mỗi tên Lê Hiến Mai, cái tên hoá ra rất đẹp. Bà Liên tâm sự: “cho đến khi qua đời, ông vẫn thích mọi người gọi cái tên mà Bác đặt cho".

Được ông Lê Đức Thọ làm “mai"

Cái duyên để tướng Lê Hiến Mai có cái tên đẹp cũng na ná như việc ông lấy được người vợ đảm đang và phúc hậu sau này. Khoảng tháng 8 năm 1948, đang là Chính trị viên

Chiến khu 2, ông được lệnh vào Nam Bộ công tác. Sau khi Trung tướng Nguyễn Bình hy sinh, ông được giao tiếp tục nhiệm vụ của tướng Nguyễn Bình. Trong quá trình hoạt động ở Nam Bộ, ông có dịp sống và làm việc với cố Tổng Bíthư Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh và đồng chí Lê Đức Thọ.

Thời kỳ ấy bà Ngô Duy Liên là cán bộ phụ nữ, làm công tác tuyên truyền, vận động ở tỉnh Bạc Liêu. Mỗi khi đi công tác xuống địa phương, tướng Mai thường qua lại nhà bà Liên. “Nhà tôi làm nghề kéo mật nấu đường, thỉnh thoảng gia đình lại gửi cho ông một, hai lọ đường để ông mang về đơn vị nấu chè. Được mấy bận, một hôm ông Sáu Thọ (Lê Đức Thọ), người rất thân với gia đình tôi- ông coi tôi như em gái vận động tôi lấy ông Mai”. Bà Liên kể: Ông Thọ nói: “Thằng Mai được lắm, hoàn cảnh của nó tội nghệp, mồ côi cha mẹ, kể từ ngày vào Nam bặt tin gia đình”. Rồi chị Bảy Huệ (vợ cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh), chị gái tôi cũng nói thêm vào...".

Một thời gian sau, tướng Mai và bà Liên làm đám cưới. “Tôi nhớ hôm đó ở Trăng Bằng Cán Gáo (còn có tên là Biển Bạch), thuộc huyện Thái Bình, tỉnh Bạc Liêu, toàn Miền Tây mở Hội nghị tuyên truyền về chiến thắng Điện Biên Phủ, ông Lê Đức Thọ sau khi ra Việt Bắc về báo cáo tình hình, và phổ biến tin chiến thắng, đẩy mạnh các hoạt động phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ. Sau hội nghị, ông Lê Đức Thọ tuyên bố luôn lễ cưới. Tôi nhớ là lễ cưới của chúng tôi tổ chức trước chiến thắng Điện Biên Phủ có một tuần, hôm đó là ngày 30 tháng 4 năm 1954". Bà Liên nhớ lại: “Đám cưới chúng tôi to lắm, vui lắm. Anh em giết một con trâu to làm cỗ, bà Ngô Thị Năm (chị gái làm cho mấy mâm bánh nướng. Ông Lê Đức Thọ làm chủ hôn nhà trai, đồng chí Ung Văn

Khiêm, Chủ tịch tỉnh Bạc Liêu, chủ hôn nhà gái. Dự lễ cưới có tất cả anh em ở toàn Miền Tây dự hội nghị, đặc biệt có cả đồng chí Ba Duẩn dự. Anh em ở nhà tù Côn Đảo tặng chúng tôi một đôi gối cưới thêu đôi vịt và hoa sen màu xanh nước biển rất đẹp, do anh chị em thêu trong tù gửi về.

Kể chuyện đến đây, bà trầm ngâm nhìn ảnh ông trên bàn thờ nói: Thế mà ông ấy đã đi xa gần hai mươi năm rồi đấy!... Đã 87 tuổi đời, 70 năm tuổi Đảng, nhưng trông bà vẫn đẹp, minh mẫn, nét mặt thật hiền hậu và giọng nói nhỏ nhẹ, gây sự cảm tình đặc biệt đối với chúng tôi. Bà nói: Ông nhà tôi giờ đã đi xa, tôi sống với các con 2 trai 3 con gái cùng các cháu nội ngoại. Các con đều thành đạt và sống hạnh phúc. Anh lớn là Võ Văn Sỹ, đại tá công an, công tác tại thành phố Hồ Chí Minh vừa gọi điện ra hỏi han sức khoẻ, còn cô con gái út là Lê Thị Việt Hoa - Đại tá, bác sỹ - Chủ nhiệm khoa Hồi sức cấp cứu - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và mấy anh chị gần đây thì đến luôn chăm nom tôi luôn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn