NGƯỜI VỢ, NGƯỜI MẸ TẦN TẢO, HY SINH
Mẹ Việt Nam anh hùng Bùi Thị Nhữ sinh ra và lớn lên trong một gia đình
nông dân nghèo vùng ven biển. Quê hương Tú Sơn (huyện Kiến Thụy) của mẹ,
một vùng đất chua mặn, sóng gió triền miên, mùa màng, thường thất bát quanh
năm. Cái nghèo đói rình rập bủa vây con người. Làm ăn sinh sống đã khó, người
nhân dân còn bị bọn cường hào ác bá câu kết với giặc Tây, giặc Nhật bóc lột đến
tận xương, tận tủy. Cũng như bao nhiêu người dân khác trong làng, mẹ Nhữ đã
sống một cuộc đời đầy tủi nhục vất vả, lam lũ quanh năm mà vẫn không đủ miếng
cơm ăn, manh áo mặc. Mẹ thấu hiểu nỗi nhục của người dân mất nước.
Giờ đây mẹ đã bước sang tuổi 80, tuổi mà mọi người cho là hay lẩn thẩn.
Nhưng với mẹ Nhữ, bao chuyện làng, chuyện xóm, chuyện gia đình mẹ vẫn
thường nhớ rõ không quên. Mẹ kể cho chúng tôi nghe chuyện chồng mẹ ngày xưa
đi tham gia kháng chiến…
Một hôm, vào đầu năm 1944, ông Nguyễn Chí Cạc (chồng mẹ) ghé tai tôi
nói nhỏ:
- Sống mãi thế này cực lắm, mình để tôi đi Việt Minh đánh Tây, đuổi Nhật
giành độc lập tự do cho đất nước, cho gia đình mình đỡ khổ, đỡ nghèo. Khi tôi đi
rồi mình nhớ đừng khoe với ai nhé!
Tôi im lặng chẳng nói được lời nào với ông. Nhưng nhìn qua ánh mắt tôi
hiểu ông. Vậy là tôi cũng thuận để ông đi. Theo lời ông dặn tôi chẳng dám đem
chuyện đó ra nói với ai và vẫn còn nhớ mãi đến ngày hôm nay.
Câu chuyện xưa, qua lời mẹ kể đã thực sự cuốn hút chúng tôi. Ngừng một
lát như để hình dung lại mọi chuyện, mẹ chậm rãi kể tiếp: hoạt động Việt Minh,
ông và đội quân tự vệ cùng với nhân dân trong làng tham gia giành chính quyền ở
Kim Sơn, rồi tiến quân ra huyện lỵ.
Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, thực dân Pháp lại dã tâm xâm lược
nước ta một lần nữa. Theo lời Cụ Hồ kêu gọi, toàn quốc bước vào cuộc kháng
chiến trường kỳ. Những năm đầu chống Pháp, đội quân du kích Tú Sơn đã chủ
động phối hợp với bộ đội chủ lực chặn đánh địch càn quét. Ngày 14-7-1947, đội du
kích Tú Sơn chiến đấu chống càn rất dũng cảm, ông Cạc và một số đội viên đã anh
dũng hy sinh ngay trên mảnh đất quê hương.
Tin chồng hy sinh đến như sét đánh ngang tai. Tôi ngất xỉu đi lúc nào chẳng
hay. Bà con xóm làng phần thương, phần lo vì tôi mới sinh cháu chưa đầy 2 tháng.
Vậy là con tôi đã phải mồ côi, không thể biết mặt người cha yêu dấu. Đêm đêm
nằm ôm con, tôi khóc thầm lặng lẽ. Bấm bụng cố quên đi nỗi mất mát đau thương,
tôi gắng sống để nuôi con. Tất cả vì giọt máu còn lại của ông ấy.
Nhắc lại những kỷ niệm xưa, mẹ lấy khăn tay lau nước mắt đang từ từ lăn
xuống hai gò má nhăn nheo. Dồn nén nỗi đau, vượt lên mất mát, mẹ sớm hôm tần
tảo thờ chồng, vốn là người chân quê chăm chỉ cần cù, mẹ chắt chiu từng đồng
tiền, bát gạo, gắng sức nuôi con ăn học, mong cho con khôn lớn lên người. Hy sinh
cả đời mình vì hạnh phúc của đứa con yêu, mẹ chỉ có một khát khao mong muốn:
con của mẹ lớn lên sẽ bằng anh bằng em, sao cho xứng đáng với sự hy sinh anh
dũng của bố nó. Niềm ao ước mong đợi bấy lâu của mẹ đã thành sự thật. Năm
1965, anh Nguyễn Chí Kịch đứa con yêu độc nhất của mẹ, được cử đi học ở nước
ngoài. Ngày tiễn con lên đường, lòng mẹ tràn ngập niềm vui hạnh phúc. Năm
1969, anh Kịch về nước và làm việc tại nhà máy Xi măng Hải Phòng. Không phụ
công lao nuôi dạy của người mẹ hiền yêu quý ở quê nhà, anh hăng say lao động,
học tập.
Giặc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, anh Kịch cùng đồng đội bám máy,
bám xưởng, vừa sản xuất vừa chiến đấu. Trong trận tập kích 12 ngày đêm bằng
B52 máy bay của giặc Mỹ vào Hải Phòng, chúng ném bom rải thảm xuống khu Xi
măng - Sở Dầu. Cả một vùng nghi ngút khói bom, đạn nổ. Lực lượng tự vệ nhà
máy xi măng chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công xuất sắc. Nhưng người
chiến sĩ tự vệ Nguyễn Chí Kịch đã ngã xuống dưới bom đạn kẻ thù.
Tin anh Kịch hy sinh làm mẹ lần nữa bàng hoàng, choáng váng. Mẹ nghẹn
ngào nói: “Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hai bố con ông
ấy đã ra đi để lại mình tôi với nỗi đau trên cõi đời này”. Nỗi đau tràn ngập nỗi đau,
vết thường lòng khi xưa đã lành nay lại nhỏ máu. Mỗi khi thương nhớ đứa con yêu
mẹ lại ngồi khóc. Nhưng nước mắt đâu làm giảm được nỗi đau? Mẹ tự nhủ: mình
phải sống sao cho xứng đáng với chồng và con. Mẹ lại tự vượt lên bằng chính nghị
lực của bản thân mình. Cùng bà con xóm làng, mẹ lao vào công việc. Tìm thấy
niềm vui trong công việc hàng ngày, nỗi mất mát đau thương của mẹ cũng vợi đi.
Sống trong những ngày vui chiến thắng và đổi mới hôm nay, ở tuổi già, mẹ
Việt Nam anh hùng Bùi Thị Nhữ không cô đơn. Mẹ được sống trong tình thương
yêu đùm bọc của cháu con, họ hàng và dân làng, sự quan tâm chăm sóc của chính
quyền địa phương.



