Người vợ ở lại với ký ức không bao giờ cũ
Người vợ ở lại với ký ức không bao giờ cũ
Chúng tôi tìm về thôn Cương Nha, xã Tiên Lãng trong một buổi chiều lặng gió. Nơi đó có căn nhà nhỏ, giản dị, là chốn đi về của bà Lê Thị Thiên, năm nay 76 tuổi – một người vợ liệt sĩ đã dành trọn cuộc đời mình để gìn giữ ký ức, tình yêu và lòng trung nghĩa với Tổ quốc.
Trong căn nhà đơn sơ, bà Thiên ngồi lặng lẽ bên bàn thờ, đôi mắt đã mờ theo năm tháng nhưng vẫn ánh lên nỗi niềm sâu lắng. Bàn tay xù xì, chai sạn vì lao động, nhẹ nhàng đặt lên bức ảnh người chồng – liệt sĩ Vũ Xuân Thanh, quê xã Khởi Nghĩa, huyện Tiên Lãng (nay thuộc xã Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng). Khoảnh khắc ấy, chúng tôi như cảm nhận rõ ràng một tình yêu chưa bao giờ nguôi ngoai, một nỗi nhớ chưa từng phai nhạt theo thời gian.
Ngược dòng ký ức, trở về những năm tháng chiến tranh khốc liệt, năm 1970, ông Vũ Xuân Thanh đã tình nguyện lên đường tham gia chiến trường miền Nam, góp sức mình vào cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đó là thời điểm bom đạn ác liệt nhất, nơi sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc, nhưng ông và những người đồng đội vẫn kiên cường tiến lên với một niềm tin sắt son vào ngày độc lập.
Trong những năm từ 1970 đến 1973, giữa làn mưa bom bão đạn của kẻ thù, ông đã nhiều lần đối mặt với nguy hiểm. Những viên đạn tàn khốc đã bắn thẳng vào đầu, vào mắt, cướp đi ánh sáng đôi mắt, lấy đi thính giác của đôi tai, khiến ông bị mù cả hai mắt, điếc cả hai tai, sức khỏe suy kiệt nghiêm trọng. Tỷ lệ thương tật lên tới 94%, thân thể ông gần như không còn khả năng hồi phục.
Dù được các y bác sĩ tận tình cứu chữa, điều trị trong điều kiện y tế còn vô cùng thiếu thốn, nhưng sự tàn phá của chiến tranh đã vượt quá sức chịu đựng của con người. Ông chỉ còn lại 6% sức khỏe mong manh để níu giữ sự sống. Sau nhiều năm kiên cường chống chọi với vết thương chiến tranh, đến năm 1995, ông đã không qua khỏi, trút hơi thở cuối cùng trong nỗi tiếc thương vô hạn của gia đình và đồng đội.
Sự hy sinh của ông là biểu tượng cho tinh thần bất khuất của người lính trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ghi nhận công lao to lớn ấy, Nhà nước đã truy tặng ông danh hiệu Anh hùng liệt sĩ, khắc ghi tên ông vào trang sử vẻ vang của dân tộc, như một lời tri ân đời đời đối với người con đã hiến dâng cả tuổi xuân, thân thể và sinh mệnh cho độc lập, tự do của Tổ quốc.
Đau đớn là thế, nhưng bà Lê Thị Thiên vẫn cố gắng gượng đứng lên. Bà đứng dậy không chỉ vì ba người con đang cần một bờ vai chở che, mà còn bởi niềm tự hào sâu sắc khi người chồng của mình đã anh dũng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc. Chính niềm tự hào ấy đã trở thành động lực mạnh mẽ, giúp bà vượt qua mọi khó khăn, mất mát tưởng chừng không thể chịu đựng. Không chỉ đảm đang việc nhà, việc ruộng, bà Thiên còn từng là thanh niên xung phong, sẵn sàng góp sức mình cho quê hương trong những năm tháng đất nước còn nhiều gian khó. Ở bất cứ vai trò nào – người vợ liệt sĩ, người mẹ, hay người đoàn viên – bà đều sống bằng tinh thần trách nhiệm, sự kiên cường và lòng yêu nước thầm lặng.
Người vợ liệt sĩ như bà Lê Thị Thiên cũng nhưbao người phụ nữ Việt Nam khác đều đã gói lại niềm riêng, sẵn sàng gạt tình yêu, hạnh phúc gia đình sang một bên để chồng yên tâm lên đường bảo vệ Tổ quốc. Mạnh mẽ vượt lên mọi mất mát, đau thương vẫn một lòng thờ chồng, nuôi con trưởng thành, là hậu phương vững chắc cho người lính, góp phần cho đất nước hôm nay nở hoa. Đó là đức hy sinh cao đẹp của phụ nữ Việt Nam trong các cuộc kháng chiến trường kỳ bảo vệ Tổ quốc và cả trong thời bình.



