Người xạ thủ 12,7 ly lập kỳ tích giữa chiến trường lửa
Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, có những người lính bước vào chiến trường với vóc dáng nhỏ bé nhưng lại mang trong mình ý chí phi thường. Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Nhương là một trong những người như thế. Suốt gần ba thập kỷ gắn bó với quân ngũ, ông đã tham gia 175 trận đánh lớn nhỏ, trực tiếp bắn rơi 13 máy bay, tiêu diệt 2 xe tăng và cùng đồng đội loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch. Những chiến công ấy đã góp phần làm nên tên tuổi của người xạ thủ 12,7 ly nổi tiếng trên nhiều chiến trường ác liệt.
Năm 17 tuổi, khi vẫn còn là học sinh, Nguyễn Văn Nhương đã mang trong mình khát vọng được cầm súng bảo vệ Tổ quốc. Trong lá đơn tình nguyện nhập ngũ của mình, ông viết ngắn gọn nhưng đầy quyết tâm: “Xin được cầm súng vào miền Nam giết giặc”.
Tuy nhiên, con đường trở thành người lính của ông không hề dễ dàng. Hai lần khám tuyển liên tiếp, Nguyễn Văn Nhương đều bị loại vì thể trạng quá nhỏ bé, cân nặng thấp hơn quy định. Thế nhưng, thất bại không làm ông nản lòng. Bằng sự kiên trì và quyết tâm mãnh liệt, ông nhiều lần trình bày nguyện vọng với Hội đồng tuyển quân. Cuối cùng, ý chí ấy đã được ghi nhận và cuối năm 1965, ông chính thức được khoác lên mình màu áo lính.
Sau ba tháng huấn luyện quân sự, Nguyễn Văn Nhương được biên chế về Đại đội súng máy 12,7 ly. Những ngày đầu quân ngũ, đơn vị của ông làm nhiệm vụ bảo vệ các cây cầu trọng yếu tại tỉnh Thanh Hóa nhằm bảo đảm giao thông thông suốt cho các đoàn quân và phương tiện chi viện chiến trường miền Nam.
Đến tháng 3 năm 1967, đơn vị nhận lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam. Từ đây, cuộc đời binh nghiệp của Nguyễn Văn Nhương bước sang một giai đoạn mới với những tháng ngày chiến đấu vô cùng gian khổ nhưng cũng đầy vinh quang.
Trong suốt quá trình chiến đấu, ông đã tham gia tổng cộng 175 trận đánh. Tuy nhiên, ký ức sâu đậm nhất đối với ông chính là trận chiến kéo dài gần 40 ngày đêm tại Tà Cơn, Quảng Trị, từ ngày 22 tháng 1 đến ngày 30 tháng 3 năm 1968.
Đây là một trong những trận đánh ác liệt nhất mà đơn vị ông từng tham gia. Nhiệm vụ của lực lượng ta là áp sát, bao vây và từng bước tiêu hao sinh lực địch, đồng thời cắt đứt tuyến tiếp tế hàng không tại sân bay Tà Cơn – căn cứ quân sự quan trọng của Mỹ ở Khe Sanh.
Ngày 22 tháng 1 năm 1968, Đại đội súng máy 12,7 ly cùng các đơn vị DKZ và bộ binh bí mật áp sát sở chỉ huy của Lữ đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ. Trong đội hình chiến đấu ấy, khẩu đội của Nguyễn Văn Nhương được bố trí ở vị trí đặc biệt quan trọng, nằm sát sân bay Tà Cơn với nhiệm vụ ngăn chặn mọi hoạt động tiếp tế bằng đường không của đối phương.
Chính vì vậy, trận địa của ông nhanh chóng trở thành mục tiêu đánh phá dữ dội của quân Mỹ. Hàng loạt đợt ném bom bằng B52, B57 cùng các cuộc phản kích bằng xe tăng, xe bọc thép và bộ binh liên tục được triển khai nhằm tiêu diệt khẩu đội của ta.
Trước sức ép khủng khiếp ấy, Nguyễn Văn Nhương cùng đồng đội vẫn kiên cường bám trận địa. Phối hợp cùng các lực lượng DKZ, cối 81 và cối 82, họ liên tục đánh trả các đợt phản công của địch, giữ vững vị trí chiến đấu trong suốt nhiều tuần lễ.
Sau gần 40 ngày đêm chiến đấu liên tục, đơn vị đã lập nên chiến công đặc biệt xuất sắc khi bắn rơi 17 máy bay địch. Riêng Nguyễn Văn Nhương trực tiếp bắn hạ 7 chiếc. Thành tích ấy khiến ông trở thành tấm gương tiêu biểu trong toàn đơn vị. Sau trận đánh, Đại đội đã phát động phong trào học tập chiến sĩ Nguyễn Văn Nhương. Trong lịch sử Đảng bộ Trung đoàn 3, Sư đoàn 9, Quân đoàn 4 còn ghi nhận chiến công nổi bật của ông với thành tích bắn rơi 3 máy bay chỉ trong một ngày chiến đấu.
Sau chiến dịch Tà Cơn, đơn vị tiếp tục hành quân vào các chiến trường khác. Tháng 8 năm 1968, Nguyễn Văn Nhương tham gia trận tiến công Sở Chỉ huy Chi khu Đắk Lập - Đắk Min thuộc tỉnh Đắk Lắk.
Đây là căn cứ quân sự được bảo vệ bằng hệ thống công sự, đồn bốt và nhiều lớp hàng rào dây thép gai kiên cố. Nhiệm vụ của đơn vị ông là dùng hỏa lực súng máy chi viện cho bộ binh tiến công, đồng thời bắn chặn các đợt đổ quân tăng viện bằng trực thăng của đối phương.
Trong lúc trực tiếp chỉ huy chiến đấu, một trận bom khiến hầm trú ẩn bị sập, Nguyễn Văn Nhương bị thương nặng và bất tỉnh. Đồng đội lập tức đưa ông về tuyến sau cấp cứu. Tuy nhiên, khi tỉnh lại giữa đường, điều đầu tiên ông nghĩ đến không phải là bản thân mà là trận đánh đang diễn ra phía trước. Ông kiên quyết yêu cầu đồng đội quay trở lại chiến trường để tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu.
Tinh thần quả cảm ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho đồng đội. Kết thúc trận đánh, đơn vị bắn rơi 5 máy bay địch, riêng Nguyễn Văn Nhương trực tiếp bắn hạ 3 chiếc.
Cuối năm 1968, ông tiếp tục chỉ huy lực lượng hỏa lực chi viện cho bộ binh tiến công tiêu diệt Tiểu đoàn Không vận Mỹ tại Sóc Trăng, phá hủy 70 xe quân sự của đối phương. Sau đó, ông cùng đơn vị tham gia các trận đánh lớn tại Lộc Ninh và nhiều địa bàn khác trên chiến trường miền Nam.
Năm 1970, đơn vị của Nguyễn Văn Nhương được giao nhiệm vụ tham gia chiến dịch tại khu vực Đông Bắc Campuchia. Một trong những trận đánh ác liệt nhất diễn ra tại Đầm Be.
Trong chiến dịch này, quân địch huy động xe tăng, máy bay, pháo binh và lực lượng bộ binh đông đảo nhằm tiêu diệt các trận địa của ta. Trước tình thế đó, Nguyễn Văn Nhương đã vận dụng linh hoạt các loại vũ khí trong tay gồm súng máy 12,7 ly, B40, súng bộ binh và lựu đạn để đánh trả quyết liệt.
Khi hai chiếc xe tăng địch tiến sát trận địa, tình huống trở nên đặc biệt nguy hiểm. Không chần chừ, ông ôm mìn chống tăng lao khỏi công sự, tiếp cận mục tiêu và đặt mìn vào xích chiếc xe tăng đi đầu. Một tiếng nổ lớn vang lên, chiếc xe tăng bốc cháy dữ dội.
Ngay sau đó, ông nhanh chóng quay trở lại vị trí chiến đấu, bình tĩnh sử dụng quả đạn B40 cuối cùng bắn trúng chiếc xe tăng thứ hai, khiến nó bị phá hủy hoàn toàn. Tiếp tục chiến đấu, ông sử dụng súng bộ binh và lựu đạn tiêu diệt lực lượng bộ binh đi kèm.
Kết thúc chiến dịch phản công tại Đầm Be, toàn đơn vị bắn rơi 19 máy bay và phá hủy 2 xe tăng địch. Riêng Nguyễn Văn Nhương trực tiếp bắn hạ 2 máy bay, tiêu diệt 2 xe tăng và nhiều tên địch khác.
Những chiến công liên tiếp đã góp phần đưa Đại đội súng máy 12,7 ly trở thành đơn vị tiêu biểu của chiến trường. Cuối năm 1972, đơn vị được phong tặng danh hiệu Đại đội Anh hùng. Cùng năm đó, Nguyễn Văn Nhương vinh dự hai lần được cử tham dự Đại hội Chiến sĩ thi đua anh hùng toàn miền Nam.
Sau đó, ông được điều động ra miền Bắc học tập tại Học viện Trung - Cao cấp Chính trị để đào tạo cán bộ chính trị quân đội. Từ năm 1973 đến năm 1974, ông giữ chức Chính trị viên Tiểu đoàn 22 thuộc Quân khu 4 và góp phần xây dựng đơn vị đạt danh hiệu Quyết thắng.
Tháng 6 năm 1977, ông tiếp tục được tăng cường vào Tây Nguyên công tác. Trong nhiều năm tiếp theo, Nguyễn Văn Nhương đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng như Trưởng ban Thanh tra Nhân dân huyện Chư Păh, đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, thành viên Ban Chỉ đạo truy quét FULRO, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh đội Gia Lai - Kon Tum và Chính trị viên Cơ quan Quân sự thị xã Pleiku.
Suốt gần 30 năm phục vụ trong quân đội, Nguyễn Văn Nhương được trao tặng 11 Huân chương Chiến công Giải phóng, 2 Huân chương Chiến sĩ Giải phóng cùng nhiều phần thưởng cao quý khác như Huy hiệu Dũng sĩ diệt máy bay, Dũng sĩ diệt xe tăng, Dũng sĩ diệt Mỹ - Ngụy và danh hiệu Chiến sĩ thi đua Quyết thắng. Ông cũng có 5 năm liên tiếp đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp Trung đoàn và Sư đoàn.
Ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, ngày 28 tháng 5 năm 2010, Chủ tịch nước đã ký quyết định phong tặng Nguyễn Văn Nhương danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Ngày nay, khi đã nghỉ hưu và sống bên con cháu tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, người lính năm xưa vẫn luôn là tấm gương sáng về lòng yêu nước, ý chí vượt khó và tinh thần chiến đấu kiên cường. Cuộc đời và những chiến công của Anh hùng Nguyễn Văn Nhương mãi là niềm tự hào của quê hương Thanh Hóa và là nguồn cảm hứng cho các thế hệ trẻ tiếp bước truyền thống vẻ vang của cha anh.



