NGỤY QUYỀN BƯNG BÍT SỰ THẬT
NGỤY QUYỀN BƯNG BÍT SỰ THẬT
Điều 13 của Công ước Genève năm 1949 về cách đối xử với tù binh có ghi: “Tù bình phải luôn luôn được đối xử một cách nhân đạo. Những hành động phi pháp hoặc sơ suất của quốc gia giam giữ làm thiệt mạng hoặc phương hại trầm trọng đến sức khỏe của tù binh dưới quyền giam giữ đều bị nghiêm cấm và xem đó là một sự vi phạm nặng nề quy ước này. Đặc biệt là không một tù binh nào phải chịu sự hủy hoại thân thể hoặc những cuộc thí nghiệm khoa học hay y học không cần thiết và không có lợi cho tù binh ấy.
Ngoài ra, tù binh còn phải luôn luôn được bảo vệ, nhất là để tránh những hành động tàn bạo, những sự đe dọa, lăng nhục và sự hiếu kỳ của dân chúng.
Những biện pháp có tính chất trả thù tù binh phải được nghiêm cấm”.
Công ước Genève quy định rõ ràng như thế nhưng quân cảnh hàng ngày vẫn đánh đập gây thương tích, đánh chết và bắn giết tù binh. Do đó chúng phải tìm cách bưng bít sự thật, không cho Hội Hồng Thập tự Quốc tế gặp gỡ, hỏi chuyện tù binh. Chúng còn làm hồ sơ giả về những trường hợp tù binh bị chúng giết hại. Giờ đây, chúng ta cũng còn tìm thấy một số hồ sơ giả trong số đó, như vụ anh Đặng Văn Bê bị chúng ném vào chảo nước sôi chết ở D10, báo cáo của chúng nói là vì tuyệt thực hai ngày nên kiệt sức chết.
Ngày 4-4-1969, Tổng trưởng Quốc phòng Nguyễn Văn Vỹ gửi cho Thủ tướng Chính phủ Sài Gòn Văn bản số 1499/QP, trong đó có đoạn viết:
“Ngày 5-3-1969, ông Jean Ott, Trưởng phái đoàn Đại diện Hồng Thập tự Quốc tế tại Việt Nam và ông Philipp Tardent, phụ tá, có đến tiếp xúc với Bộ Tổng tham mưu nhắc rằng từ vài tháng nay, Hội chưa nhận được danh sách tù binh do Bộ Quốc phòng cung cấp.
Ngoài ra, trong văn thư mới đây gửi cho Bộ Quốc phòng, Phái đoàn liên hệ thỉnh cầu được thông báo các nơi giam giữ tù binh bị Tòa án quân sự kết án, vì theo Công ước Genève các tù binh này vẫn còn tư cách nguyên lai của chúng, và đai diện Hồng Thập tự Quốc tế có quyền thăm viếng. Phái đoàn cũng xin cung cấp cho Hồng Thập tự Quốc tế chỉ tiết về các biến cố mới đây tại Trại giam Phú Quốc, đặc biệt là vụ đào thoát của 21 tù binh trong tháng 2 năm 1969 và cuộc nổi loạn vừa rồi đã gây cho một số tù binh chết và bị thương”.
Cho đến ngày đó, Bộ Quốc phòng Sài Gòn chỉ mới chuyển cho Hội Hồng Thập tự Quốc tế danh sách tù binh nhập trại đến tháng 7-1968. Chính Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh đình chỉ cung cấp danh sách tù binh cho Hội Hồng Thập tự Quốc tế.
Những đòi hỏi của Hồng Thập tự Quốc tế làm cho ngụy quyền Sài gòn lúng túng. Trong văn bản nói trên, Nguyễn Văn Vỹ phân tích:
“Nếu đình chỉ cung cấp danh sách tù binh cho Hội Hồng Thập tự Quốc tế mà vẫn cho thăm viếng các trại giam thì Hội liên hệ sẽ có đầy đủ chi tiết qua các câu hỏi với Chỉ huy trưởng trại giam mà vị này không thể chối từ. Ngoài ra, Hội liên hệ vẫn có thể có được danh sách tù binh nhờ Bộ Tư lệnh viện trợ quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam do các cố vấn Hoa Kỳ cạnh các trại giam cung cấp”.
Việc không cung cấp danh sách tù binh còn làm cho ngụy quyền Sài Gòn lúng túng trong việc đưa anh em tù binh ra xét xử tại các tòa án quân sự. Cũng tại văn bản nói trên, Nguyễn Văn Vỹ nhận định:
“Khó giải thích các trường hợp tù binh gây rối bị xét xửhoặc bị đồng bọn thanh toán. Theo Công ước Genève, mỗi khi tù binh bị truy tố ra tòa, Hội Hồng Thập tự Quốc tế phải được thông báo cáo trạng và được mời đại diện chứng kiến việc xét xử. Nếu vì chưa thông báo danh sách tù binh mà không chuyển cáo trạng và không mời đại diện của Hội để chứng kiến việc xét xử, tức là vì phạm Công ước Genève và Hội liên hệ sẽ có cớ phản đối sau này”.
Vì không được cung cấp danh sách tù binh nên hơn 20 vụ xét xử tù binh Phú Quốc tại Tòa án quân sự Vùng 4 chiến thuật (Cần Thơ) hầu như không có sự chứng kiến của Hội Hồng Thập tự Quốc tế. Do vậy, các vụ xét xử đó đều vi phạm Công ước Genève về cách đối xử với tù binh.
Ngụy quyền Sài Gòn cũng tìm cách cản trở, gây khó khăn trong việc Hội Hồng Thập tự Quốc tế đến thăm các trại giam tù binh. Ở Phú Quốc, khi thấy giám thị và quân cảnh có vẻ bớt hung hăng, lương thực thực phẩm cũng như các loại trang bị được cấp phát tương đối tốt hơn, nhà cửa được dọn sạch sẽ thì anh em biết ngay là có phái đoàn quốc tế sắp đến thăm.
Ngoài ra, khi có phái đoàn Hội Hồng Thập tự Quốc tế đến, Bộ Chỉ huy trại giam ra lệnh cho đem giấu những tù binh bị thương nặng do bị chúng đánh đập và những người ở biệt giam. Thường chúng hay đem giấu anh em ở một đồi tranh phía sau khu 2. Anh em gọi đó là “Đổi giấu từ”.
Biết rằng bọn giám thị luôn tìm cách khống chế, không cho tù binh nói sự thật, sau này đại diện Hồng Thập tự Quốc tế đề nghị trong các cuộc tiếp xúc với tù binh, chỉ có đại diện của Hội với tù binh, ngoài ra không có ai khác tham dự. Địch buộc phải đồng ý.
Sau cuộc viếng thăm của đại diện Hội Hồng Thập tự Quốc tế tại phân khu A10 trong các ngày 10, 11 và 12-6-1970, Bộ Chỉ huy Trại giam tù binh Phú Quốc báo cáo lên cấp trên của chúng rằng Hội Hồng Thập tự Quốc tế đã “làm một việc không thể tưởng tượng được mang tính chất thiên vị”, đó là người của phái đoàn đã cõng người tù binh về trại.
Ngụy quyền Sài Gòn làm văn bản gửi Hội Hồng Thập tự Quốc tế phản đối hành vi mà chúng gọi là thiên vị đối với tù bình. Đại diện của Hội trả lời là đã hành động theo đúng như thỏa thuận, không có gì sai trái, thiên vị. Riêng việc công tù bỉnh về trại là vì hôm đó làm việc đến hết giờ, không có nhân viên nào ở đây, còn người tù binh không thể tự đi được nên người của Hội phải cõng đưa anh ta về trại.
Người được cõng về trại là anh Nguyễn Minh Cao (tức Ba Cao), nguyên Phó Ban Binh vận khu 8, bị bắt khai là cán bộ nông hội. Lần A10 đấu tranh đuổi trật tự, anh bị chúng bắt đánh gãy chân. Khi đến A10, phái đoàn Hồng Thập tự Quốc tế đi qua các phòng, tình cờ thấy anh bị băng chân nên tỏ ý muốn nói chuyện với anh tại phòng trống cạnh nhà bếp.
Sau khi được đưa đến, anh ra dấu đề nghị đuổi tay chân của giám thị vừa cõng anh lên. Anh nói sẵn sàng nói hết sư thật dù biết rằng sau khi phái đoàn về, anh sẽ còn bị đánh đập dã man, có thể không còn được thấy phái đoàn nữa. Phái đoàn hỏi tình hình ăn ở của tù binh, thuốc men trị bệnh, có còn chuồng cọp biệt giam không? Sau khi nghe anh Ba Cao tố cáo địch và tỏ ý tin tưởng phái đoàn, Đại diện Hội Hồng Thập tự Quốc tế nói lần này phái đoàn sẽ ở lại Phú Quốc một tuần lễ và mỗi năm sẽ trở ra Phú Quốc một lần để kiểm tra tình hình và sẽ đến gặp anh. Lần đó phái đoàn cũng hỏi chuyện thêm một số anh em khác.
Theo gợi ý của anh Ba Cao, ba ngày sau phái đoàn trở lại vào lúc giữa trưa gặp anh Ba Cao và phát hiện nhiều tù binh mà phái đoàn đã hỏi chuyện hôm trước bị đánh đập sau khí các anh gặp phái đoàn, trong đó có ba người bị thương nặng. Phái đoàn lập biên bản bắt đại diện của Bộ Chỉ huy trại giam phải ký vào.
Từ đó, hằng năm phái đoàn trở lại gặp các anh để kiểm tra tình hình. Cuộc viếng thăm của phái đoàn, bản báo cáo và sự lưu ý của Hội Hồng Thập tự Quốc tế làm cho ngụy quyền Sài Gòn lúng túng, tìm cách chống đỡ. Ngày 4-11-1970, Tổng trưởng Ngoại giao Trần Văn Lắm gửi Văn bản số 7186-BNG/MC cho Thủ tướng ngụy quyền Sài Gòn để báo cáo và xin ý kiến “về việc Ủy Hội Hồng Thập tự Quốc tế lưu ý Chính phủ Việt Nam Cộng hòa về tình trạng nguy hiểm tại Trại tù binh Phú Quốc".
Văn bản viết:
“Trân trọng kính trình Thủ tướng, đính hậu Công văn số 068/ĐDVN ngày 16-10-1970 của Tòa Đại diện thường trực Việt Nam Cộng hòa cạnh các tổ chức quốc tế ở Genève (có kèm theo phóng ảnh Điệp văn số 100/RN ngày 12-10-1970 của Hội Hồng Thập tự Quốc tế về tình trạng nguy hiểm tại Trại giam tù binh Phú Quốc).
Theo điệp văn của Ủy hội Quốc tế thì họ có nhận được báo cáo của đại diện của họ tại Sài Gòn cho biết là tại Trại tù binh Phú Quốc, tình hình đang nguy hiểm, có thể trở nên trầm trọng: 3 tù binh được đại diện Ủy hội Quốc tế thẩm vấn vào ngày 10, 11 và 12-6-1970 đã bị trả đũa nặng nề, bị nhiều vết thương trầm trọng đến nỗi phải di chuyển gấp về Sài Gòn, 1 trong số 3 tù binh này đã bị mê man trong khi di chuyển. Thuốc men trong trại giam hầu như không có chỉ cả, một vài trường hợp tù binh đã chết một cách rất khả nghi.
Trước đây, Tòa Đại diện Việt Nam Cộng hòa tại Genève cũng đã gửi trình báo cáo của ông Monod, đại diện Ủy Hội Quốc tế Hồng Thập tự về cuộc viếng thăm của ông này tại các Trại tù binh Phú Quốc trong những ngày 10, 11 và 12-6-1970. Theo bản báo cáo thì Trại giam Phú Quốc không đủ chỗ để chứa 25.000 tù binh hiện đang bị giam giữ tại đó. Tù binh mang dấu vết đã bị đánh đập, bị xử phơi nắng, nhốt vào “chuồng cọp” và không có phương tiện giải trí thỏa đáng. Về y tế cũng lại quá thiếu thốn, chỉ có hai y sĩ chăm sóc cho toàn thể tù binh và nhân viên trong trại (kể cả gia đình nhân viên)".
Sau báo cáo của ông Monod, Cục Quân y Sài Gòn tăng thêm 3 y sĩ cho Trại giam tù binh Phú Quốc.
Sự can thiệp của Hội Hồng Thập tự Quốc tế cũng có những tác dụng nhất định. Từ giữa năm 1970, địch lần lượt dỡ bỏ những biệt giam ngoài trời. Chúng càng tìm cách che giấu sự thật, không cho những hành động khủng bố, giết người rất tàn bạo của chúng ở các trại giam bị lọt ra ngoài.
Trong bưu điệp số 0054-TT/BĐ/M ngày 19-8-1972 của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gửi Thủ tướng, Tổng trưởng các Bộ Thông tin, Ngoại giao, Tổng Tham mưu trưởng, Tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh chính trị, ông ta ra lệnh phải: “Thật chặt chẽ và thật gắt gao trong vấn đề cho báo chí Việt Nam và ngoại quốc, nghị sĩ dân biểu Việt Nam và ngoại quốc... thăm viếng các trại giam bất cứ loại gì, cấp nào và bất cứ ở đâu, dù lớn hay nhỏ: tìm hiểu, đòi nghe thuyết trình về vấn đề tù binh, tù thường dân, tù cán bộ cộng sản tại các nhà giam trung ương, địa phương...”. Thiệu ra lệnh, chỉ có Thủ tướng mới có quyền cho ai được tìm hiểu, được nghe thuyết trình, được đi thăm các trại giam. “Ai vi phạm sẽ bị cách chức và trừng phạt tối đa”.



