Người có công giúp đỡ cách mạng

Nguyễn Thị Thu

Nguyễn Thị Thu

Thái Nguyên01/04/2026Ngô Thanh Huyền (Trường đại học Y Dược)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

81 ngày đêm và những chuyến đò

Tiếng bom đạn còn vang vọng trong đầu, tiếng thét đau đớn gọi "mẹ ơi" vẫn chập chờn trong giấc ngủ. Có 4 năm làm du kích nhưng có lẽ điều đọng lại lớn nhất với bà Nguyễn Thị Thu sau này chính là 81 ngày đêm lịch sử chèo đò đưa bộ đội vượt dòng Thạch Hãn.

Vượt mưa bom bão đạn đưa đồng đội qua sông

Năm 1968, khi Mỹ và quân đội Sài Gòn mở rộng căn cứ Ái Tử, cư dân làng Giang Hến, thị trấn Ái Tử (nay thuộc xã Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) bị cưỡng ép rời khỏi mảnh đất cha ông. Nhà cửa tan hoang, họ phải dắt díu nhau về làng Tiền, xã Triệu Giang (nay là xã Ái Tử, Quảng Trị), sống chen chúc trong cảnh nơm nớp giữa bom đạn. Chính trong bối cảnh ấy, Nguyễn Thị Thu bước vào tuổi 18 - cái tuổi đáng lẽ chỉ biết đến mái chèo, con cá, con hến, nhưng chiến tranh đã định đoạt cho chị một số phận khác.

Người dẫn dắt chị vào con đường cách mạng là cụ Nguyễn Con - lão ngư vừa dạm hỏi chị cho con trai mình. Ông không chỉ là cha chồng tương lai, mà còn là người thầy, người cha tinh thần, đưa chị vào hàng ngũ những người dám đem sinh mạng đặt trên dòng nước đỏ máu.

Ngày 28/6/1972, quân và dân ta tiến công, giải phóng Thành cổ Quảng Trị. Từ đó, sông Thạch Hãn trở thành huyết mạch nối hậu phương với chiến trường. Nhưng, cũng chính nơi này biến thành tọa độ chết, khi kẻ thù trút xuống hàng vạn tấn bom đạn. Trong hoàn cảnh hiểm nghèo, những chuyến đò bí mật và những con người thầm lặng trở thành cứu cánh. Cụ Con và chị Thu là hai trong số những người đã tình nguyện gánh vác sứ mệnh ấy.

Trở lại làng Giang Hến sau 18 năm, kể từ lần đầu tiên tôi quyết định đi tìm bà sau khi xem bức ảnh “Cha con lão ngư dân Triệu Phong chở bộ đội và vũ khí tiếp sức cho Thành cổ”, ngôi nhà cấp 4 xây từ hàng chục năm trước nay càng thêm cũ kỹ, xuống cấp. Ở tuổi 71, bà Thu đã già đi nhiều. Vóc dáng bà vẫn mập mạp, thần thái thì khi nhớ khi quên bởi căn bệnh tiền đình mãn tính; thêm chứng huyết áp cao và thoái hóa xương khớp khiến bước chân bà chậm chạp, nặng nề.

Trong câu chuyện, bà Thu lấy xuống bức ảnh treo trang trọng ở gian chính ngôi nhà, đặt ngay trước mặt như để mở đầu cho cả ký ức. Đó là bức ảnh “Cha con lão ngư dân Triệu Phong chở bộ đội và vũ khí tiếp sức cho Thành cổ” - tấm hình tư liệu đã đi cùng năm tháng. Tại Thành cổ Quảng Trị, bức ảnh này cũng được trưng bày ở một vị trí trang trọng, ngay bên phải lối vào tầng 1 của Bảo tàng Thành cổ.

“Bắt đầu từ ngày 28/6/1972, hỏa lực từ các vị trí phía Nam sông dồn dập bắn sang, kéo dài từ Triệu Vân ven biển qua Triệu Trạch, Hải Phú cho đến tận Hải Lệ. Ngoài khơi, pháo hạm gầm rú, trên trời B-52 trút bom, cả Quảng Trị rung chuyển”, bà Thu nhớ lại. Những đêm trắng, pháo sáng quét loang loáng mặt sông. Trong ánh sáng chập chờn ấy, mái chèo của hai cha con vẫn kiên định cắm xuống nước, khua lên từng nhịp chắc nịch, đưa từng đoàn quân vượt sang bờ Nam.

Bà lặng nhìn bức ảnh, rồi trầm ngâm kể: “Bờ Bắc có nhiều bến, từ làng Tiền kéo dài lên tới xã Triệu Thượng, giáp ranh với Triệu Nguyên. Bộ đội chủ lực, dưới sự dẫn đường của bộ đội địa phương và dân quân du kích, chia thành nhiều nhóm để sang sông nhằm giảm thiểu thương vong. Tôi và cha tôi phụ trách ở bến làng Tiền. Từ đây qua chiến địa phía Nam xa hơn so với bến Bắc Nhan Biều (thôn Nhan Biều dưới, xã Triệu Thượng). Vì vậy, hễ ngớt bom đạn, chúng tôi lại chèo dọc sông, ngược lên đó để sang cho kịp”.

Con nước Thạch Hãn dữ dội, thay đổi theo từng giờ. Cha chồng rành sông nước đã dạy bà Thu cách “nghe tiếng nước” để giữ lái. Ban ngày địch đánh phá ác liệt, nhiều chuyến đò phải đi trong đêm tối mịt, chỉ có pháo sáng và tiếng bom. Có lúc bom rơi sát mạn thuyền, bà vừa cầm súng vừa giữ chèo. “Chúng tôi chỉ có một niềm tin phải đưa được các anh sang sông an toàn, nếu hi sinh cũng ngẩng cao đầu” - bà Thu kể.

Bà Thu không nhớ nổi đã chèo bao nhiêu chuyến, chỉ khắc sâu những gương mặt trai trẻ đã qua được bên kia sông và những thương binh trút hơi thở trên dòng sông ngày ấy. Ký ức ấy hằn trong tim, mỗi lần nhắc lại bà vẫn nhói lòng.

Nhà báo Đoàn Công Tính khi ấy đã ghi lại khoảnh khắc giữa bom đạn: một lão ngư mình trần, gân guốc, khua mái chèo đưa thuyền vượt sóng; bên mạn thuyền là cô gái trẻ gầy guộc, ánh mắt kiên định, đôi tay nắm chắc khẩu súng. Đó chính là ông Con và chị Thu. Khi bức ảnh ra đời, chị Thu không hề hay biết mình ở trong khung hình, càng không ngờ rằng hình ảnh bình dị ấy lại trở thành biểu tượng bất tử, được nhắc lại và trân trọng suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Mỗi chuyến đò không chỉ chở người, chở đạn, chở lương thực mà còn chở theo niềm tin rằng Thành cổ phải được giữ bằng mọi giá. Bởi, mỗi ngày quân và dân ta trụ vững nơi ấy cũng là thêm một ngày Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam có tiếng nói mạnh mẽ hơn trên bàn đàm phán Paris.

Trong “Mưa đỏ”, khán giả rơi nước mắt trước cảnh o Hồng chèo đò đưa bộ đội vượt sông Thạch Hãn vào Thành cổ Quảng Trị. Nhân vật do diễn viên Lê Hạ Anh thủ vai trở thành biểu tượng của người con gái tuổi đôi mươi, quả cảm giữa khói lửa

Khi bộ phim khép lại, cả rạp lặng đi. Bà Thu ngồi rất lâu, ánh mắt dõi theo màn hình đen như níu giữ ký ức.

“Cảm giác như được gặp lại đồng đội. Nhiều người đã nằm lại dưới dòng sông ấy. Xem phim, tôi vừa buồn, vừa thấy nhẹ lòng, vì những hi sinh được khắc họa để thế hệ sau biết mà trân trọng” - bà Thu xúc động.

Ra khỏi rạp chiếu phim, bà cảm ơn những người trẻ đã mời đi xem, bảo rằng đây là ngày bà không bao giờ quên. Nếu đồng đội còn sống, họ hẳn cũng vui khi thấy câu chuyện của mình được kể lại.

Hình ảnh o Thu ngoài đời và o Hồng trên phim đã hòa vào nhau, để ký ức của một thế hệ nữ du kích bên dòng Thạch Hãn sống mãi cùng lịch sử. Đó không chỉ là sự tri ân quá khứ, mà còn là lời nhắc nhở hôm nay, rằng hòa bình có được là từ bao mồ hôi, máu xương và tình yêu son sắt của những con người bình dị.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn