NGUYỄN AN NINH – NGƯỜI TRÍ THỨC KHIẾN THỰC DÂN PHÁP SỢ HƠN CẢ SÚNG ĐẠN
Không cầm quân ngoài chiến trường. Không nắm trong tay một đội quân. Nhưng chỉ bằng ngòi bút và những bài diễn thuyết, Nguyễn An Ninh đã khiến chính quyền thực dân Pháp phải theo dõi, bắt giam và đày ra Côn Đảo suốt nhiều năm.
Nguyễn An Ninh sinh năm 1900 trong một gia đình nhà Nho yêu nước tại Hóc Môn, Gia Định. Cha ông là Nguyễn An Khương, một nhà yêu nước nổi tiếng, từ nhỏ đã dạy ông chữ Hán và hun đúc tinh thần dân tộc. Ngay từ thời đi học, Nguyễn An Ninh đã nổi tiếng là thần đồng, luôn đứng đầu các kỳ thi.
Sau khi học tại Trường Taberd và Chasseloup-Laubat ở Sài Gòn, ông sang Pháp học Luật tại Đại học Sorbonne, một trong những trường đại học danh giá nhất châu Âu. Chỉ khoảng hai năm, ông hoàn thành chương trình bốn năm với tấm bằng Cử nhân Luật hạng xuất sắc khi mới khoảng 20 tuổi, gây tiếng vang trong giới học thuật Pháp.
Trong thời gian ở Pháp, ông không chỉ học luật mà còn tiếp cận các tư tưởng dân chủ, nghiên cứu chủ nghĩa Mác, đọc Tuyên ngôn Nhân quyền và kết thân với Nguyễn Ái Quốc, Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền. Chính quãng thời gian ấy đã hình thành tư tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc của ông.
Có trong tay tấm bằng luật danh giá, Nguyễn An Ninh hoàn toàn có thể trở thành luật sư giàu có hoặc làm việc cho chính quyền thuộc địa. Nhưng ông từ chối tất cả để trở về Việt Nam cuối năm 1922 với một mục tiêu duy nhất: thức tỉnh dân tộc.
Ngày 25/1/1923, tại Hội Khuyến học Nam Kỳ ở Sài Gòn, ông có bài diễn thuyết "Chung đúc một nền học thức cho dân An Nam" trước khoảng 3.000 người. Bài nói kêu gọi người Việt thoát khỏi tâm lý nô lệ, xây dựng nền văn hóa độc lập và khơi dậy lòng tự tôn dân tộc. Chỉ vài tháng sau, ông tiếp tục diễn thuyết "Lý tưởng của thanh niên An Nam", kêu gọi lớp trẻ dám sống vì đất nước thay vì chạy theo danh lợi. Những bài diễn thuyết ấy đã làm chấn động Nam Kỳ và biến Nguyễn An Ninh thành thủ lĩnh tinh thần của thanh niên lúc bấy giờ.
Khi bị cấm diễn thuyết, ông chuyển sang dùng báo chí làm vũ khí. Tháng 12/1923, ông sáng lập tờ La Cloche Fêlée (Tiếng chuông rè), vừa là chủ nhiệm, chủ bút, vừa trực tiếp viết bài, biên tập, in và tự đi bán báo. Trên từng số báo, ông công khai phê phán chế độ thực dân, lên án bất công xã hội, cổ vũ tự do, dân chủ và kêu gọi thanh niên đứng lên cứu nước. Chính quyền Pháp coi tờ báo này là một trong những tờ báo nguy hiểm nhất Nam Kỳ.
Không chỉ viết báo, Nguyễn An Ninh còn thành lập Thanh niên Cao vọng Đảng, hay còn gọi là Hội kín Nguyễn An Ninh, quy tụ hàng nghìn thanh niên yêu nước khắp Nam Bộ. Tổ chức này trở thành nơi rèn luyện tư tưởng và sau đó nhiều hội viên đã gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, trở thành những cán bộ cách mạng quan trọng.
Hoạt động càng mạnh, thực dân Pháp càng đàn áp dữ dội. Từ năm 1924 đến 1939, ông liên tục bị bắt, bị kết án nhiều lần với các tội danh như "kích động quần chúng", "lập hội kín", "gây rối trị an". Dù ra tù rồi lại vào tù, Nguyễn An Ninh chưa từng từ bỏ con đường mình đã chọn.
Dù không phải đảng viên cộng sản, ông luôn sát cánh cùng những người cộng sản, hỗ trợ phong trào cách mạng, vận động tài chính cho báo chí cách mạng, giúp đỡ nhiều cán bộ của Đảng và nhiều lần đứng hẳn về phía lực lượng cách mạng trong các cuộc đấu tranh chính trị.
Năm 1936, khi Chính phủ Mặt trận Bình dân lên cầm quyền ở Pháp, Nguyễn An Ninh là người đầu tiên đề xuất tổ chức Đông Dương Đại hội, kêu gọi thành lập hàng trăm Ủy ban Hành động để tập hợp quần chúng đấu tranh công khai. Chỉ trong thời gian ngắn, khoảng 600 Ủy ban đã ra đời, tạo nên cao trào cách mạng mạnh mẽ khắp Nam Kỳ.
Năm 1940, ông bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo. Tại "địa ngục trần gian", ông vẫn giữ vững khí tiết. Khi phát xít Nhật hai lần ngỏ ý đưa ông về lập chính phủ thân Nhật, Nguyễn An Ninh kiên quyết từ chối, dù lúc đó sức khỏe đã suy kiệt.
Ngày 14/8/1943, Nguyễn An Ninh qua đời tại Côn Đảo khi mới 43 tuổi vì bệnh tật và những năm tháng lao tù khắc nghiệt, chỉ hai năm trước khi Cách mạng Tháng Tám thành công.
Sau này, Nhà nước truy tặng ông danh hiệu Liệt sĩ. Tên Nguyễn An Ninh được đặt cho nhiều tuyến đường, trường học trên cả nước. Khu tưởng niệm ông tại TP.HCM trở thành địa chỉ giáo dục truyền thống cho nhiều thế hệ.
Từ một trí thức Tây học với tương lai rộng mở, Nguyễn An Ninh đã chọn con đường khó nhất: dùng tri thức để đánh thức dân tộc. Ông không chỉ là nhà báo, nhà văn hóa, nhà tư tưởng lớn đầu thế kỷ XX, mà còn là biểu tượng của tinh thần dấn thân, lòng yêu nước và khát vọng tự do của thanh niên Việt Nam.



