NGUYỄN ẢNH THỦ - NGỌN CỜ GIỮA MƯỜI TÁM THÔN VƯỜN TRẦU
Nguyễn Ảnh Thủ (1821–1871) là thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp ở vùng Gia Định. Ông từng tham gia nghĩa quân Trương Định, âm thầm chiêu mộ lực lượng và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đánh chiếm Bà Điểm, đồn Thuận Kiều năm 1871. Ông hy sinh trong chiến đấu, để lại tấm gương yêu nước và được nhân dân lập đền thờ tưởng niệm.

NGUYỄN ẢNH THỦ
NGỌN CỜ GIỮA MƯỜI TÁM THÔN VƯỜN TRẦU
Truyện lịch sử dựa trên tư liệu chính thức; các lời thoại và một số chi tiết miêu tả được hư cấu hóa để tăng tính kể chuyện, không phải lời trích nguyên văn từ sử liệu.
Ở vùng Tân Sơn Nhì, nơi những con đường đất len qua vườn trầu và ruộng lúa, người dân vẫn truyền nhau một câu hỏi: khi quê hương bị giặc giày xéo, một người có thể làm được gì?
Nguyễn Ảnh Thủ đã trả lời câu hỏi ấy bằng cả cuộc đời mình.
Ông sinh năm 1821 tại làng Tân Sơn Nhì, huyện Tân Bình, tỉnh Gia Định, trong một gia đình khá giả. Nhưng sự đủ đầy không khiến ông quay lưng với cảnh nước mất, làng xóm bị đe dọa. Khi quân Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, ông đi theo nghĩa quân Trương Định, chiến đấu ở mặt trận Thuận Kiều, Gia Định.
Thuận Kiều khi ấy không chỉ là một đồn lũy. Đó còn là nơi những người dân áo vải tìm cách giữ lấy mảnh đất của mình. Từ căn cứ này, nghĩa quân nhiều lần xuất quân, gây tổn thất cho quân Pháp và tiếp vận cho đại đồn Chí Hòa.
Rồi tháng 2 năm 1861, đại đồn Chí Hòa thất thủ. Quân Pháp mở rộng đánh sang Thuận Kiều. Triều đình cắt ba tỉnh miền Đông cho Pháp, nghĩa quân Trương Định rút về Gò Công. Trước tình thế ấy, Nguyễn Ảnh Thủ không buông tay.
Ông trở về quê, nhận làm thôn trưởng Tân Thới Nhì. Với kẻ địch, đó có thể là dáng vẻ của một người đã khuất phục. Nhưng bên dưới sự im lặng ấy là một kế hoạch khác: ông âm thầm chiêu mộ nghĩa quân, tìm cách che chở cho đồng đội và dùng tiền thuế thu được để giúp lực lượng kháng chiến. Khi việc bị phát giác, ông phải bỏ trốn về Gò Công.
Một người có thể lẩn tránh quân thù, nhưng không dễ gì lẩn tránh lời gọi của quê hương.
Năm 1864, Nguyễn Ảnh Thủ trở lại Tân Sơn Nhì để chuẩn bị tập hợp nghĩa quân. Quân Pháp bắt ông và kết án năm năm tù. Những năm tháng trong lao tù không làm ý chí ấy biến mất. Năm 1868, mãn hạn, ông đưa gia đình về thôn Tân Hưng, rồi cùng các con lên vùng Mây Tàu. Ở đó, ông liên lạc với những nhóm nghĩa quân cũ và bà con địa phương, chuẩn bị cho một cuộc nổi dậy mới.
Ba năm sau, lá cờ khởi nghĩa lại xuất hiện. Nghĩa quân do Nguyễn Ảnh Thủ chỉ huy đánh chiếm làng Bà Điểm, rồi làm chủ đồn Thuận Kiều. Trong trận đánh, viên trung úy trưởng đồn người Pháp cùng nhiều binh lính bị giết. Tin ấy nhanh chóng lan ra vùng Mười tám thôn Vườn trầu. Đó là một thắng lợi ngắn ngủi, nhưng đủ để người dân hiểu rằng quân xâm lược không phải là lực lượng không thể đánh bại.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Quân Pháp từ Sài Gòn kéo lên, lại có quân từ Hóc Môn đánh xuống. Nghĩa quân bị vây ép và tổn thất nặng. Giữa lúc chiến đấu, Nguyễn Ảnh Thủ trúng đạn. Ông hy sinh trên mặt trận vào năm 1871. Tư liệu chính thức của UBND Quận 12 ghi ngày hy sinh là ngày 14 tháng 5 năm Tân Mùi; một trang giới thiệu của Trường THCS Nguyễn Ảnh Thủ lại ghi ngày 29 tháng 6 năm 1871, nhằm ngày 11 tháng 5 năm Tân Mùi. Vì vậy, câu chuyện này chỉ xác định chắc chắn ông hy sinh trong cuộc khởi nghĩa năm 1871, không khẳng định một ngày cụ thể.
Quân Pháp đem thi thể ông đi thủ tiêu và ráo riết truy bắt nghĩa quân. Cuộc khởi nghĩa thất bại, nhưng tinh thần của nó không bị bắt theo. Người dân dựng đền thờ để tưởng nhớ một người đã đem sự sống, gia đình và danh phận của mình đổi lấy cơ hội giữ đất, giữ làng.
Về sau, ngôi đền không chỉ là nơi hương khói. Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, đây là nơi hội họp của các tổ chức bí mật địa phương. Năm 1945, khi thực dân Pháp quay lại xâm lược, người dân thu hẹp một số công trình để ngăn quân Pháp chiếm làm nơi đóng quân. Đền trở thành nơi tập trung các đội cảm tử quân, tự vệ Tân Thới Nhất và là nơi thu gom đồng do nhân dân đóng góp để đúc súng, vỏ đạn phục vụ kháng chiến.
Đến thời kỳ chống Mỹ, ngôi đền tiếp tục là trạm liên lạc và địa điểm hội họp bí mật của bộ đội. Người dân quanh đền nuôi giấu những nhóm trinh sát; phía sau đền có hòm thư bí mật, nơi cất giấu lương thực và chuyển tin cho lực lượng cách mạng.
Có lẽ đó là cách Nguyễn Ảnh Thủ tiếp tục chiến đấu sau khi đã hy sinh: không phải bằng một cánh quân, mà bằng ký ức đã biến thành lòng can đảm của nhiều thế hệ.
Ngày nay, Đền thờ Nguyễn Ảnh Thủ ở phường Tân Thới Nhất, Quận 12, là nơi nhân dân tưởng niệm ông. Đền được UBND Thành phố Hồ Chí Minh xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp thành phố theo Quyết định số 3948/QĐ-UBND ngày 18 tháng 8 năm 2011.
Nếu đứng trước ngôi đền vào một ngày yên tĩnh, ta có thể không nghe thấy tiếng súng của Thuận Kiều năm xưa. Nhưng ta vẫn có thể hình dung con người đã đi qua những năm tháng ấy: một người từng giả trá hàng để bảo vệ đồng đội, từng chịu tù đày mà không từ bỏ ý định khởi nghĩa, và cuối cùng ngã xuống khi lá cờ của mình còn đang bay.
Nguyễn Ảnh Thủ không để lại một triều đại hay một đạo quân lớn. Ông để lại một lời nhắc giản dị hơn: lịch sử của quê hương được làm nên không chỉ bởi những người thắng trận, mà còn bởi những người dám đứng lên khi biết mình có thể thất bại.
Ghi chú sử liệu
Nguồn chính của câu chuyện là bài giới thiệu di tích của UBND Quận 12, trong đó trình bày thân thế, hoạt động của Nguyễn Ảnh Thủ, cuộc khởi nghĩa năm 1871, lịch sử Đền thờ và quyết định xếp hạng di tích.
Trang của Trường THCS Nguyễn Ảnh Thủ ghi ông là người hoạt động trong “phong trào Cần Vương”. Tuy nhiên, mốc này cần thận trọng: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia xác định phong trào Cần Vương gắn với Dụ Cần Vương năm 1885, trong khi Nguyễn Ảnh Thủ hy sinh năm 1871. Vì vậy, câu chuyện không gọi hoạt động của ông là phong trào Cần Vương, mà gọi theo tư liệu UBND Quận 12 là cuộc kháng chiến chống Pháp dưới cờ nghĩa quân Trương Định và cuộc khởi nghĩa năm 1871.



