Nguyễn Bặc – Ngọn hải đăng trung nghĩa buổi bình minh độc lập
Nguyễn Bặc (924 – 979) quê ở làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng (nay là xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình). Ông là người bạn nối khố kề vai sát cánh cùng Đinh Bộ Lĩnh từ thuở "cờ lau tập trận". Trong công cuộc dẹp loạn 12 sứ quân, ông là vị tướng tổng chỉ huy tối cao, lập nhiều chiến công hiển hách giúp thống nhất giang sơn. Khi nhà nước Đại Cồ Việt thành lập năm 968, ông được phong chức Định Quốc Công, trở thành vị Tể tướng đầu tiên của nước ta. Sau biến cố năm 979, để giữ trọn lòng trung thành với nhà Đinh, ông cùng Đinh Điền dấy binh chống lại quyền thần Lê Hoàn và đã anh dũng hy sinh, lưu danh thiên cổ.
Trong lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, thế kỷ X đứng đó như một mốc son chói lọi, mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ lâu dài sau một thiên niên kỷ Bắc thuộc tối tăm. Để thắp lên ngọn lửa chính thống vĩ đại ấy, bên cạnh hào quang rực rỡ của Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh, sử sách vẫn luôn dành những trang trang trọng nhất để tôn vinh một bậc vĩ nhân, vị Tể tướng đầu tiên của nước Việt: Định Quốc Công Nguyễn Bặc. Cuộc đời ông là một bản hùng ca toàn vẹn về lòng dũng cảm, trí tuệ mưu lược và trên hết là một tấm lòng tận trung son sắt với đất nước đến hơi thở cuối cùng.
Mối nhân duyên giữa Nguyễn Bặc và Đinh Bộ Lĩnh là câu chuyện đẹp đẽ được dân gian lưu truyền qua nhiều thế kỷ. Cùng sinh năm Giáp Thân (924) tại vùng đất địa linh nhân kiệt Đại Hoàng, Nguyễn Bặc chính là người bạn chăn trâu cắt cỏ, đồng cam cộng khổ cùng Đinh Bộ Lĩnh từ thuở ấu thơ. Giữa thung lũng Hoa Lư lộng gió, ông đã cùng Đinh Điền, Lưu Cơ, Trịnh Tú kết nghĩa anh em, lấy bông lau làm cờ bện, khoanh tay làm kiệu rước Đinh Bộ Lĩnh. Trò chơi thuở nhỏ ấy không chỉ bộc lộ khí chất thủ lĩnh của Đinh Bộ Lĩnh, mà còn là bệ phóng rèn giũa nên một Nguyễn Bặc kiên cường, một lòng một dạ tin tưởng vào người bạn lớn của mình.
Khi thời cuộc biến động, đất nước rơi vào cảnh cát cứ, tang tóc của loạn 12 sứ quân, Nguyễn Bặc đã lập tức rũ bỏ áo vải, cầm gươm tháp tùng chủ tướng đi dẹp loạn. Với tài thao lược xuất chúng, tính cách quyết đoán và dũng mãnh như mãnh hổ, ông được tin tưởng giao trọng trách tổng chỉ huy quân đội. Nguyễn Bặc đi đến đâu, giặc tan đến đó. Ông lần lượt đánh bại, thu phục các sứ quân cứng đầu nhất, giữ vai trò quyết định đưa giang sơn thu về một mối. Năm 968, khi Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, định đô tại Hoa Lư, Nguyễn Bặc được phong chức Định Quốc Công. Vai trò của ông tương đương với vị Tể tướng đầu tiên trong lịch sử, là người đứng đầu hàng văn võ, giúp vua quản lý triều chính, xây dựng luật pháp, định nền tự chủ vững chắc cho quốc gia.
Thế nhưng, bi kịch lịch sử đột ngột ập đến vào năm 979. Đinh Tiên Hoàng và thái tử Đinh Liễn bị sát hại, ấu chúa Đinh Toàn lên ngôi khi mới 6 tuổi. Thập đạo tướng quân Lê Hoàn nắm giữ quyền lực triều đình, có ý định soán ngôi. Trước viễn cảnh vương triều mà mình và chủ tướng dày công đắp xây bằng xương máu có nguy cơ sụp đổ, dòng máu trung nghĩa trong người vị Tể tướng 55 tuổi lại cuộn chảy. Không màng đến an nguy của bản thân, ông cùng người bạn đồng ngũ Đinh Điền và Phạm Hạp dấy binh từ hai hướng thủy bộ tiến về kinh thành, quyết tâm bảo vệ dòng máu chính thống của vương triều cũ. Dù cuộc binh biến thất bại trước sức mạnh quân sự của Lê Hoàn và Nguyễn Bặc phải chịu hình phạt nghiệt ngã nhất, nhưng cái chết oanh liệt của ông đã khắc sâu vào tâm khảm người Việt một tượng đài bất tử về chữ "Trung".
Người đời sau tôn vinh Nguyễn Bặc là người đứng đầu "Giao Châu thất hùng" – bảy vị anh hùng kiệt xuất của nước Việt thế kỷ X. Hiện nay, đền thờ phụng ông được lập ở khắp mọi miền đất nước, đặc biệt là tại vùng đất tổ Ninh Bình, nơi khói hương quanh năm nghi ngút.
Hơn một ngàn năm đã trôi qua, triều đại nhà Đinh nay chỉ còn lại những dấu tích rêu phong bên vách núi Hoa Lư, nhưng câu chuyện về vị Tể tướng trung trinh Nguyễn Bặc thì vẫn sống mãi cùng sông núi. Đứng trước đền thờ ông, ngắm nhìn bức tượng uy nghi giữa làn khói trầm thanh tịnh, lòng mỗi người con đất Việt lại trào dâng niềm tự hào và xúc động sâu sắc, cúi đầu kính cẩn trước một bậc tiền nhân đã sống và thác đi như một biểu tượng kiêu hãnh của khí phách hiên ngang nước Việt.



