Bài viết

Nguyễn Bỉnh Khiêm

tóm tắt tiểu sử

Quảng Trị22/08/2026xã Dray Bhăng (Xã Dray Bhăng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Nguyễn Bỉnh Khiêm
image.png

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491- 1585), còn có tên là Nguyễn Văn Đạt, tự là Hanh Phủ, hiệu là Bạch Vân cư sĩ, được học trò tôn xưng là “Tuyết Giang phu tử”, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, trấn Hải Dương (nay là xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng). Ông sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, thân phụ là nhà Nho Nguyễn Văn Định, học trường Quốc Tử Giám nhưng không ra làm quan mà về quê dạy học, lấy hiệu là Cù Xuyên tiên sinh. Thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục con gái tiến sĩ, quan Thượng thư bộ Hộ Nhữ Văn Lan ở làng An Tử Hạ, huyện Tân Minh, phủ Hạ Hằng cùng xứ (nay thuộc xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng). Bà là một nữ lưu nổi tiếng cuối thời Lê, vốn giỏi văn thơ và am hiểu lý số, kén chồng đến tuổi ngót 30 mới kết duyên với nhà giáo Nguyễn Văn Định cũng có tiếng hay chữ.

Nguyễn Văn Đạt lúc mới sinh có tướng mạo khôi ngô, mới tròn tuổi đã nói sõi, sớm đã bộc lộ năng khiếu và sự thông minh. Khi lên năm, một sáng, cha bỗng ra bờ biển, Văn Đạt thốt lên: “Ồ, mặt trời mọc đằng Đông”. Mới học vỡ lòng mà đã ứng đáp được nhiều câu đối khó của cha. Thấy con thông tuệ, cha mẹ ông hết sực chăm lo, dạy dỗ, rèn cặp. Trong bài tựa tập Bạch Vân quốc ngữ thi tập của mình, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nêu rõ công lao dạy dỗ của gia đình. Khi lớn lên, Nguyễn Văn Đạt có theo học Đình nguyên Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, người làng Hội Trào, huyện Hoằng Hóa, xứ Thanh.

Thời trai trẻ của ông, triều Lê đã suy đồi, vua quan hư đốn, ham ăn chơi xa xỉ, tranh giành quyền lực, đẩy dân vào cảnh lầm than, khổ cực. Nhiều nơi dân nổi dậy chống đối lại triều đình. Tình hình xã hội như thế, nên ông ở ẩn tại quê nhà, nghiên cứu kinh sách và dạy học. Học trò biết đến tiếng ông nên theo học rất đông. Thấy ông học thức sâu rộng, đạo đức cao cả, bạn bè, quan lại, sĩ phu quanh vùng đều khuyên ông nên ra thi để giúp đời, làm rạng danh cha mẹ nhưng ông đều cảm ơn và từ chối. Mãi đến năm Giáp Ngọ (1534) dưới triều Thái Tông, Mạc Đăng Doanh, một vị vua hiền tài, đất nước yên bình, nhân dân ấm no, Nguyễn Văn Đạt mới quyết định ra giúp nước, giúp dân. Ông đổi tên là Nguyễn Bỉnh Khiêm và dự kỳ thi Hương. Khoa này ông đỗ đầu. Mùa xuân năm Ất Mùi (1535), ông tham dự thi Hội, thi Đình, cả hai khoa đều đỗ đầu, đoạt học vị cao nhất là Trạng Nguyên.

Sau khi thi đỗ, vua Mạc bổ nhiệm chức Đông các hiệu thư rồi trải thẳng đến chức Đông các đại học sĩ, tức chức đứng đầu cơ quan có nhiệm vụ giúp vua phê duyệt các văn bản quan trọng nhất của triều đình, đồng thời giữ chức Tả thị lang bộ Lại. Nhưng sau khi hai ông vua giỏi nhất triều Mạc là Mạc Đăng Doanh, Mạc Đăng Dung qua đời vào các năm Canh Tý (1540), Tân Sửu (1541) thì nhân việc vua nhỏ nối ngôi, bọn quyền thần lũng đoạn, chia bè chia phái tranh giành quyền lợi, trong đó có cả thông gia và con rể ông. Nguyễn Bỉnh Khiêm hết sức can ngăn nhưng không được. Tháng tám năm Nhâm Dần (1542), ông kiên quyết từ bỏ quan chức, sau khi tờ sớ hạch tội đòi chém 18 viên quan to cậy thế làm càn, tham lam, sa đọa không được vua chấp nhận.

Về quê, ông dựng quán Trung Tân, xây bia để truyền bá tư tưởng nhân nghĩa mong văn hồi thế đạo nhân tâm; mở trường dạy học, sĩ tử khắp nơi theo học rất đông, nhiều người trở thành văn quan, võ tướng tài danh. Ông còn lập Thi xã Bạch Vân để tập hợp thi gia sáng tác xướng họa mà đời sau có nhà nghiên cứu coi là một trường phái thi ca Đại Việt do Nguyễn Bỉnh Khiêm là nguyên soái và cũng là cây bút chủ lực. Vì thế, am Bạch Vân nơi ông ở lúc về trí sĩ, Thi xã Bạch Vân do ông khởi xướng luôn luôn gắn với tên tuổi ông, tác phẩm của ông và cả phẩm chất của bậc đại hiền, đại trí này. Dù ông đã từ quan về quê nhưng các vua nhà Mạc đều coi là bậc thầy, hết sức kính trọng và biệt đãi. Khi có việc dân, việc nước quan trọng vua đều sai sứ về am Bạch Vân hoặc rước mời ông về kinh đô để hỏi mưu kế. Ông ung dung trù liệu nhiều kế sách hay có hiệu quả. Xong việc ông lại đòi về am, nhà vua không thể nào lưu giữ được. Thơ văn ông cũng như phả ký đều nhắc tới việc Nguyễn Bỉnh Khiêm tham gia đánh dẹp anh em họ Vũ nổi loạn ở Tuyên Quang định phối hợp với quân Lê Trịnh đẩy quân triều Mạc vào thế phải đối phó ở hai phía. Chính ông đã bày thực hư kế khiến quân Lê Trịnh đang uy hiếp mạnh Thăng Long phải vội vàng rút cả về Thanh Hóa để giữ nơi căn bản. Chính vì thế mà quan Thượng thư bộ Lại, Trạng Nguyên Giáp Hải trong một bài thơ đã ca ngợi Nguyễn Bỉnh Khiêm là “cột chống trời của nhà Mạc”, là “người có công lớn nhất của bốn đời vua”. Do đó, vua Mạc Mậu Hợp đã phong ông chức tước cao nhất là Thái phó Trình quốc công. Đến năm 1585, ông mắc bệnh, vua Mạc cử sứ giả và quan ngự y về thăm, hết lòng chạy chữa. Biết mình tuổi cao, sức yếu khó lòng qua khỏi, ông đã bày kế sách bảo toàn họ Mạc, đồng thời tránh cho dân cuộc nội chiến. Khi ông qua đời, nhà vua cử ông chú là Ứng vương Mạc Đôn Nhượng chức phụ chính đại thần, về Trung Am để úy tế; ban 3000 quan tiền để dựng đền thờ, tự tay nhà vua viết biển đề hàng chữ Mạc triều Trạng Nguyên Tể tướng từ (đến thờ quan Tể tướng, Trạng Nguyên triều Mạc). Vua còn cấp 100 mẫu ruộng để hàng năm thu hoa lợi dùng vào việc tế tự. Học trò và sĩ phu đương thời tông xưng ông là “Tuyết Giang phu tử”, một vinh dự đặc biệt cao quý chỉ một số ít nhà Nho có đức nghiệp đạt được mà thôi.

Nguyễn Bỉnh Khiêm coi rẻ công danh phú quý, trọn đời trung thành với đạo học yêu nước, thương dân, vì chính  dân là gốc của nước. Ông bảo vệ trật tự xã hội phong kiến nhưng phải là quan lại hiền tài, vua chúa thành minh. Do đó, vua ngu tối, quan tham là những đối tượng mà ông căm ghét, khinh bỉ. Ông vốn tài cao đức lớn nhưng lại sinh phải thời đại nhiễu nhương, nhân dân khổ cực vì loạn lạc, vì bọn bất nhân nên muốn nhàn mà không được yên. Lòng ưu thời mẫn thế luôn lộ ra trong thi ca, trong cách hành xử của ông.

Người đời cảm thông hoàn cảnh, chia sẻ tấm lòng của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tiến sĩ Vũ Khâm Lân đã kết luận tập Phả ký viết về Trạng thật đích đáng: “Ôi, trong thiên hạ, các bậc quân vương, các vị hiền giả hỏi có thiếu chi nhưng chỉ lúc sống là được phú quý vinh hoa, còn sau khi mất rồi thì những thứ đó cũng mai một với thời gian, hỏi còn ai nhắc đến nữa”.

Sứ giả triều Thanh bàn đến nhân vật nước ta cũng có câu: “Ở nước An Nam chỉ có một ông Trịnh Tuyền am hiểu sâu sắc khoa Lý học (An Nam Lý học hữu Trình Tuyền); rồi ghi thành sách lưu truyền ở Trung Quốc. Như thế, đủ biết Tiên sinh là nhân vật kiệt xuất nước ta thời trước”.

Trong 95 năm cuộc đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ thực sự làm quan có 8 năm. Có thể nói, gần hết cuộc đời ông đã sống tại quê hương. Đây là điều kiện tốt để Nguyễn Bỉnh Khiêm có dịp gần gũi và tiếp xúc nhiều với cuộc sống của nhân dân. Nhờ sống gần gũi nhân dân, vốn hiểu biết của ông càng thêm phong phú, sâu sắc. Sống trong xã hội loạn lạc, vì gần gũi với dân mà ông cảm thấy nỗi đau khổ của dân cũng là nỗi đau khổ của mình, ông thấu hiểu và đồng cảm với tình cảnh của dân, yêu dân, thương dân và mong muốn vì dân.

Suốt hành trình cuộc sống của mình, khi dùi mài kinh sử, lúc ở ẩn, khi ra làm quan, lúc mở trường dạy học, Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp xúc nhiều với những con người, những cảnh đời khác nhau - đặc biệt là những cảnh đời nơi thôn dã. Thật ít người có được một cuộc đời từng trải như ông. Chính cuộc từng trải - sống lâu và sống nhiều đã tạo nên ở Nguyễn Bỉnh Khiêm một vốn hiểu biết vô cùng rộng lớn và sâu sắc. Ông không chỉ có vốn kiến thức đồ sộ - kết quả của việc tham bác sách vở, mà ông còn có vốn sống phong phú do từng trải việc đời, việc người. Ông hiểu rõ được bối cảnh ông sống với những đặc điểm, tình hình của nó; bởi vậy ông luôn trăn trở trong suy nghĩ, tư tưởng và tình cảm của mình về xã hội ấy.

Nguyễn Bỉnh Khiêm sống trong thời chế độ phong kiến bước đầu có những biểu hiện khủng hoảng. Trên đường thực hiện lý tưởng, ông không có may mắn như Nguyễn Trãi xưa kia được đem hết nhiệt huyết và tài năng tham gia sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng nhân cách. Tuy nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm lại rất giống Nguyễn Trãi về tâm hồn, nhân cách. Nguyễn Trãi là viên ngọc “mài chẳng khuyết, nhuộm chẳng đen”, giữa những biểu hiện xấu xa của triều đình Lê Sơ sau ngày khởi nghĩa; còn Nguyễn Bỉnh Khiêm là “vàng mười” trong cảnh đời đen bạc của xã hội phong kiến Việt Nam thế kỷ XVI.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn