Bài viết

Nguyễn Bình và ba văn kiện trong ngày đầu Nam Bộ - Tấm lòng của người yêu nước.

Hải Phòng04/09/2026xã Ô Loan (Đoàn xã Ô Loan)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Tuy nhiên, đất nước chưa hưởng trọn niềm vui độc lập thì ngày 23/9/1945, Pháp nổ súng xâm lược Nam Bộ. Trước tình thế nguy cấp đó, Nguyễn Bình nhận được thư của Hồ Chí Minh gọi về Thủ đô. Đến gặp Người tại Bắc Bộ Phủ, hai bên đã trao đổi về tình hình cách mạng Nam Bộ, Người nói “Bác nghĩ rằng các lực lượng vũ trang trong đó đang cần một chỉ huy tài năng để tập hợp cán bộ địa phương lại, nếu không sẽ có thể xẩy ra nạn thập nhị sứ quân rất tai hại trong lúc này. Người chỉ huy đó phải biết rõ miền Nam, lại phải là một người có đủ bản lĩnh thu hút những tay giang hồ kiểu Bình Xuyên. Chú có thể đảm nhận được vai trò đó không?”

Nguyễn Bình nói: “Bác đã tín nhiệm cháu, cháu xin nhận”.

Ông nhanh chóng trở về Hải Phòng chuẩn bị đồ đạc, trước khi vào Nam, đại diện thành phố Cảng trao tặng ông khẩu súng lục hiệu Wicker để làm kỷ niệm, mong rằng khẩu súng luôn mang bên người nhắc ông nhớ tới tấm lòng của nhân dân Hải Phòng luôn nhớ về ông. Đáp lại những tình cảm thiêng liêng đó ông nói: “Bác đã giao miền Nam cho Nguyễn Bình, thành phố Cảng tặng Nguyễn Bình khẩu súng này để hoàn thành nhiệm vụ Bác giao. Nguyễn Bình thề với khẩu súng này: “Nếu để Nam Bộ mất, Nguyễn Bình sẽ chết với khẩu súng này”.

Được sự giúp đỡ của Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, ngày 20/11/1945 tại xã An Phú (huyện Hóc Môn), Nguyễn Bình với danh nghĩa là phái viên của Trung ương, tổ chức “Hội nghị quân sự Nam Bộ” đầu tiên. Hội nghị có sự tham gia của đại biểu các lực lượng vũ trang ở miền Đông như: quân Giải phóng quân liên quận; Lực lượng vũ trang Bình Xuyên, Đệ tam sư đoàn, lực lượng vũ trang Cao Đài, đồng chí Nguyễn Đức Thuận bí thư Liên tỉnh miền Đông. Hội nghị bàn bạc về việc thống nhất các lực lượng vũ trang ở Nam Bộ lấy tên chung là Giải phóng quân Nam Bộ, thống nhất biên chế hình thức chi đội, phân chia khu vực hoạt động, đề ra những giải pháp tiến hành chiến tranh du kích. Trong hội nghị này, Nguyễn Bình được bầu làm Tổng Tư lệnh giải phóng quân Nam Bộ. Nhân danh Tổng Tư lệnh Giải phóng quân Nam Bộ, Nguyễn Bình đã công bố 3 văn kiện:

Văn kiện số

1: Lời thề cứu nưóc

"Chưa thành công ta quyết chưa lui về.

Nam Bộ mất, ta sẽ vì Nam Bộ chết.

Để vì dân tận diệt kẻ thù.

Để vì nước hủy mình không sống nhục"

Văn kiện số 2 : Thông báo số 1.

“Hỡi đồng bào, Pháp đã đầu hàng Phát xít, nhân dân ta giành lại chánh quyền từ tay quân Nhật.

Nay Pháp núp sau quân Anh đồng minh trở lại chiếm nước ta lần nữa. Hồ Chủ tịch đã thay đồng bào phát lời nguyền: “Thà chết chứ không chịu làm nô lệ một lần nào nữa!

Như vậy là ta quyết chiến đấu đến cùng để giữ gìn chính quyền của ta.

Lịch sử từ ngàn xưa Chiến là tất Thắng, Hòa là đầu hàng, là nô dịch. Hòa thì một Tô Định, một Liễu Thăng, một Sầm Nghi Đống cũng đè đầu cưỡi cổ. Đánh thì một Thoát Hoan dòng dõi Thành Cát Tư Hãn Đông Điền, Hít Le, ta cũng đánh thắng. Truyền thống của dân tộc ta được thể hiện qua cánh tay của Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung.

Một dân tộc kiêu hùng, một đánh hai mươi mà dám đánh và biết đánh thắng.

Một người con gái Việt Nam cũng mang trong mình cái hào khí đã ngang qua miếu Sầm Nghi Đống trề môi cười khinh thị “Ví thử tôi đây làm nam tử thì sự anh hùng há bấy nhiêu!”

Trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, thời nào cũng có người đánh giặc giữ nước. Bây giờ đến lượt chúng ta đảm đương sứ mệnh cao cả đó. Chúng ta quyết đánh và quyết thắng. Tôi được lệnh vào Nam, cùng đồng bào đánh giặc giữ nước. Với nhiệm vụ này tôi thề trước đồng bào rằng: Sẽ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, chưa thành công tôi không chạy trốn, chưa thành công tôi quyết không lui về. Nếu Nam bộ mất tôi cùng chết với Nam bộ. Khẩu súng Wicker tôi mang theo người là vật kỷ niệm của đồng bào đồng chí thành Tô Hiệu (Hải Phòng) tặng tôi trong giờ đưa tiễn với ý thức dặn dò và gửi gắm niềm tin. Tôi đã lặng lẽ nhận nó với tâm nguyện: “vì dân vì nước tận diệt quân thù và sẽ dùng nó tự sát khi phải cái nhục mất nước”.

Đây là cuộc toàn dân kháng chiến cứu nước, không phân biệt già, trẻ, gái, trai. Đồng bào hãy đồng tâm quyết đánh và quyết thắng. Chống giặc tại nhà, tại làng, thôn, ấp, suối, rừng. Không cộng tác với giặc. Thực hiện triệt để vườn không nhà trống. Đối với địch thực hiện 3 không: không nghe, không thấy, không biết.

Đánh địch bằng mọi thứ vũ khí, không có súng thì dùng dao, cuốc, xẻng, gậy, gộc...

Chúng ta quyết đánh và quyết thắng”.

Văn kiện số 3: Thông báo số 2

“Hịch chống xâm lăng có 3 điều chống :

1.Chống hợp tác với giặc
2.Chống tổ chức và hoạt động vô chính phủ
3.Chống khủng bố và ức hiếp nhân dân

Từ ngày 20/11/1945 các lực lượng võ trang sẽ thống nhất quân hiệu: GIẢI PHÓNG QUÂN NAM BỘ.

Ngoài lực lượng chính quy, các tỉnh còn tổ chức các đơn vị trợ chiến gồm địa phương, dân quân du kích, gọi tắt là dân quân.

Các tổ chức võ trang nhiều hay ít, tập thể hay cá nhân không nằm trong hệ thống quân giải phóng kể trên coi như hoạt động bất hợp pháp, phải giải tán để tránh tình trạng manh động, vô chánh phủ”.

Vị Trung tướng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nhận nhiệm vụ vào Nam Bộ với tư cách là phái viên Trung ương Đảng, Nguyễn Bình đã giữ được miền Nam trong những “ngày cuồng phong bão tố”, bẻ gãy được mũi nhọn tiến công của quân viễn chinh Pháp. Dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Bình, các đơn vị bộ đội địa phương được tập hợp lại, chính quy hóa, đi vào nề nếp, đặt mục tiêu đánh Pháp lên trên hết, thống nhất được các nhóm giang hồ kiểu Bình Xuyên. Một đóng góp nữa của Nguyễn Bình, đó là đào tạo binh chủng tinh nhuệ luồn sâu đánh hiểm, đột nhập vào thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn là hang ổ của địch, ngày đêm quấy rối, rải truyền đơn, ném lựu đạn, làm cho địch ăn không ngon ngủ không yên.

Với những cống hiến đó, ngày 25/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 115/SL phong quân hàm Trung tướng cho Nguyễn Bình - Khu Trưởng chiến khu VII kiêm Ủy viên quân sự Nam Bộ, cùng ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ký sắc lệnh 117/SL phong quân hàm Thiếu tướng cho ông Trần Đại Nghĩa - Cục trưởng Cục Quân giới. Lễ phong quân hàm Trung tướng được Bộ tư lệnh Nam Bộ tổ chức trọng thể tại xã Nhơn Hòa Lập, Châu Bình, Bến Tre.

Phần mộ Trung tướng Nguyễn Bình tại Nghĩa trang liệt sỹ thành phố Hồ Chí Minh (Nguồn: Internet).

Năm 1951 ông được Trung ương triệu tập ra Bắc báo cáo tình hình Nam Bộ, trên đường thi hành nhiệm vụ ông bị phục kích và hi sinh ngày 2/9/1951 tại tỉnh Ráp-ta-na-ki-ri (Cam-pu-chia). Năm 2000, với sự giúp đỡ của Chính phủ Hoàng gia Cam-pu-chia, đội công tác Bộ Quốc phòng đã tìm thấy và đưa về nước hài cốt Trung trướng Nguyễn Bình ngày 29/9/2000. Lễ truy điệu và mai táng hài cốt liệt sĩ - Trung tướng Nguyễn Bình được tổ chức trọng thể tại nghĩa trang liệt sỹ thành phố Hồ Chí Minh. Ông được nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn