Bài viết

Nguyễn Chí Thanh – "Đại tướng nông dân" và cánh chim đầu đàn xông pha nơi đầu sóng ngọn gió

Là một trong hai vị Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, Nguyễn Chí Thanh không chỉ nổi danh với tư duy quân sự sắc bén "nắm thắt lưng địch mà đánh", mà còn in đậm dấu ấn trong lòng dân như một vị "Đại tướng nông dân" bình dị, sẵn sàng xắn quần lội ruộng cùng bà con và luôn có mặt ở những mặt trận gian khó nhất của Tổ quốc.

Huế22/10/2026Phạm Trọng Toàn (Đại học Bách Khoa Hà Nội)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại, hiếm có một nhà lãnh đạo nào lại mang trong mình sự kết hợp kỳ lạ và cuốn hút đến thế giữa chất thép của một vị thống soái chiến trường và sự mộc mạc, nồng hậu của một người nông dân thuần phác như Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy trao quân hàm Đại tướng vào năm 1959 – trở thành vị Đại tướng thứ hai của quân đội ta sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp – cuộc đời ông là một bản hùng ca rực lửa của tinh thần xông pha, nói đi đôi với làm, luôn có mặt ở những nơi hiểm nguy và gian khổ nhất.

Trước khi khoác lên mình bộ quân phục mang bốn ngôi sao vàng danh giá, Nguyễn Chí Thanh là chàng thanh niên Nguyễn Vịnh sinh ra tại vùng quê nghèo Niêm Phò (Quảng Điền, Thừa Thiên Huế). Cảnh nghèo khó khiến ông phải bỏ học từ năm 14 tuổi để đi cày thuê, cuốc mướn nuôi gia đình. Nhưng chính từ trong bùn lầy và mồ hôi của đời tá điền, ngọn lửa cách mạng trong ông đã bùng cháy. Ba lần bị thực dân Pháp bắt giam tại các nhà lao Thừa Phủ, Lao Bảo, Buôn Ma Thuột là ba lần ông biến nhà tù đế quốc thành trường học rèn luyện bản lĩnh. Năm 1945, tại Tân Trào, Bác Hồ đã trực tiếp đặt cho ông cái tên Nguyễn Chí Thanh – gửi gắm niềm tin vào một con người có ý chí trong sáng và kiên định. Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, khi mặt trận Bình – Trị – Thiên bị địch càn quét dữ dội và rơi vào thế cô lập, chính Bí thư Phân khu ủy Nguyễn Chí Thanh đã kiên quyết bám trụ cùng nhân dân, vực dậy phong trào từ trong máu lửa, khiến Bác Hồ phải cảm phục phong tặng cho ông danh hiệu "Vị tướng du kích".

Một trong những câu chuyện thú vị và cảm động nhất mà ít ai ngờ tới về một vị Đại tướng lừng lẫy lại nằm ở những năm tháng hòa bình ngắn ngủi trên miền Bắc. Đầu năm 1961, khi mặt trận nông nghiệp gặp muôn vàn khó khăn, thiếu lương thực trầm trọng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đang là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đã xung phong xin Trung ương cho mình chuyển sang làm Trưởng ban Công tác Nông thôn. Nhiều người lúc ấy ngỡ ngàng: tại sao một vị Đại tướng quân đội lại đi lo chuyện cấy cày, phân bón? Nhưng với ông, "Đảng cần ở đâu, người cộng sản có mặt ở đó". Không ngồi ở bàn giấy Hà Nội nghe báo cáo, vị Đại tướng khoác áo nâu sồng, đội mũ cối, trực tiếp xuống tận hợp tác xã Đại Phong (Quảng Bình) và nhiều vùng quê khác. Ông cùng ăn, cùng ở, trực tiếp xắn quần lội bùn cấy lúa, tát nước với bà con xã viên để tìm hiểu thực tế. Chính từ những giọt mồ hôi trên đồng ruộng ấy, ông đã khơi dậy phong trào thi đua "Gió Đại Phong" thổi bùng sức sống mới cho nông nghiệp miền Bắc. Người dân trìu mến gọi ông là "Đại tướng nông dân" – một danh hiệu bình dị nhưng cao quý bậc nhất.

Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn cam go nhất với việc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam năm 1964, một lần nữa Tổ quốc lại gọi tên Nguyễn Chí Thanh. Từ mặt trận nông nghiệp, vị Đại tướng lập tức khoác ba lô, vượt Trường Sơn vào làm Bí thư Trung ương Cục kiêm Chính ủy Quân giải phóng miền Nam. Lúc bấy giờ, trước sức mạnh hỏa lực khổng lồ của quân đội nhà nghề Mỹ, không ít người băn khoăn: Liệu ta có đánh được Mỹ không, và đánh bằng cách nào? Giữa rừng sâu miền Đông Nam Bộ, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã dày công nghiên cứu từng trận đánh thực tế tại Núi Thành, Vạn Tường, lắng nghe ý kiến của từng người lính chiến để rồi đúc kết nên một phương châm tác chiến đi vào lịch sử: "Nắm thắt lưng địch mà đánh".

Tư tưởng "bám thắt lưng địch" của ông vừa giàu hình tượng dân gian, vừa mang tầm vóc khoa học quân sự kiệt xuất: áp sát đối phương ở cự ly gần nhất để vô hiệu hóa hoàn toàn ưu thế pháo binh và không quân tối tân của Mỹ, buộc địch phải đánh theo cách đánh gần của ta. Không chỉ vạch ra chiến lược, ông còn truyền cho toàn chiến trường miền Nam một khí phách không biết sợ là gì qua những bài viết sắc sảo dưới bút danh "Trường Sơn", đập tan tâm lý e ngại hỏa lực địch và củng cố niềm tin tất thắng cho hàng triệu quân dân.

Sự hy sinh của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cũng đột ngột và để lại niềm tiếc thương vô hạn như một ngôi sao băng rực sáng giữa bầu trời đêm. Tháng 7 năm 1967, ông ra Hà Nội để báo cáo với Bác Hồ và Bộ Chính trị về kế hoạch chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Thế nhưng, ngày 6 tháng 7 năm 1967, ngay trước giờ lên đường trở lại chiến trường miền Nam chỉ vài tiếng đồng hồ, trái tim nhiệt huyết của vị Đại tướng đã đột ngột ngừng đập sau một cơn đau tim nặng, khi ông mới 53 tuổi. Bác Hồ đã lặng người đi trong nỗi đau xót trước sự ra đi của người học trò kiên trung, còn ở miền Nam, những chiến sĩ giải phóng quân đã nén đau thương, biến di nguyện của người Chính ủy kính yêu thành sức mạnh bão táp trong mùa xuân năm 1968.

Cuộc đời Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tuy chỉ vỏn vẹn hơn nửa thế kỷ nhưng đã cháy hết mình cho độc lập, tự do của dân tộc. Trước lúc đi xa, ông từng căn dặn một câu nói đã trở thành kim chỉ nam về đạo đức cách mạng: "Một người cách mạng mà bớt chất cách mạng thì thêm chất phản cách mạng". Nhìn lại cuộc đời của vị "Đại tướng nông dân", thế hệ hôm nay không chỉ cúi đầu ngưỡng mộ một tài năng quân sự kiệt xuất, mà còn học được bài học lớn về lối sống gắn bó máu thịt với nhân dân, tinh thần dấn thân không ngại gian khổ và một trái tim luôn đập trọn vẹn vì Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Nguyễn Chí Thanh – "Đại tướng nông dân" và cánh chim đầu đàn xông pha nơi đầu sóng ngọn gió | Câu chuyện thời hoa lửa