NGUYỄN CHÍ THANH - NGƯỜI TƯỚNG TỪ LÒNG DÂN
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là nhà lãnh đạo chính trị, quân sự xuất sắc của cách mạng Việt Nam. Ông có nhiều đóng góp trong xây dựng Quân đội nhân dân, lãnh đạo kháng chiến ở Bình – Trị – Thiên, phát triển phong trào “Gió Đại Phong” và chỉ đạo cách mạng miền Nam.
NGUYỄN CHÍ THANH
NGƯỜI TƯỚNG TỪ LÒNG DÂN
Năm 1938, ở tuổi hai mươi bốn, Nguyễn Vịnh được giao làm Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên. Đó là một trọng trách lớn đối với một người còn rất trẻ. Nhưng quê hương ông khi ấy đang sống trong cảnh áp bức, và người thanh niên sinh ra ở thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế đã sớm chọn con đường đứng về phía nhân dân.
Nguyễn Vịnh sinh ngày 1 tháng 1 năm 1914 trong một gia đình nông dân. Từ những năm 1933–1934, ông tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Năm 1937, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Con đường hoạt động cách mạng từ đó gắn với những lần bị bắt, những nhà lao khắc nghiệt và những cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ.
Từ năm 1938 đến năm 1945, ông ba lần bị địch bắt, giam tại nhà lao Thừa Phủ, Lao Bảo và nhà đày Buôn Ma Thuột. Nhà tù không khuất phục được người chiến sĩ ấy. Trong cảnh bị giam cầm, ông cùng đồng chí tổ chức đấu tranh, học tập và giữ vững niềm tin. Với những người tù chính trị, nhà lao không chỉ là nơi bị cầm giữ; đó còn là nơi rèn luyện ý chí và chuẩn bị cho ngày trở lại với phong trào.
Tháng 8 năm 1945, tại Hội nghị toàn quốc của Đảng ở Tân Trào, Nguyễn Vịnh được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và được chỉ định làm Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ. Cũng trong thời gian này, ông được lãnh tụ Hồ Chí Minh đặt cho tên mới: Nguyễn Chí Thanh. Với tên gọi ấy, ông cùng Xứ ủy Trung Kỳ lãnh đạo nhân dân tiến hành Tổng khởi nghĩa, góp phần giành chính quyền ở các địa phương, trong đó có Huế.
Sau Cách mạng Tháng Tám, đất nước bước vào những năm tháng chiến tranh gian khổ. Năm 1948, Nguyễn Chí Thanh làm Bí thư Liên khu ủy Liên khu 4. Ông chủ trương cán bộ phải bám dân, bám đất, chống tư tưởng cầu an, xây dựng lực lượng và phát triển chiến tranh du kích. Ở Bình – Trị – Thiên, những chủ trương ấy góp phần biến một địa bàn khó khăn thành một điển hình của cuộc kháng chiến. Từ thực tiễn đó, ông được gọi là “Tướng du kích”.
Năm 1950, Trung ương điều động ông vào Quân đội, giao giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Bộ Tổng Tư lệnh và Phó Bí thư Tổng Quân ủy. Ông đặc biệt coi trọng xây dựng quân đội về chính trị. Theo ông, sức mạnh của quân đội không chỉ nằm ở vũ khí hay đội hình, mà còn ở lý tưởng, kỷ luật, niềm tin và sự gắn bó với nhân dân. Dưới sự chỉ đạo của ông, công tác Đảng và công tác chính trị trong Quân đội được củng cố, trở thành “linh hồn, mạch sống” của quân đội.
Năm 1959, Nguyễn Chí Thanh được phong quân hàm Đại tướng. Nhưng ông không chỉ làm việc trong quân đội. Đầu năm 1961, ông được giao phụ trách công tác nông thôn Trung ương. Người tướng ấy đi xuống các hợp tác xã, ra đồng cùng nông dân, tìm hiểu từng khó khăn trong sản xuất. Từ thực tiễn ấy, ông góp phần phát động những phong trào thi đua như “Gió Đại Phong”, cổ vũ sản xuất và xây dựng hậu phương miền Bắc. Nhân dân gọi ông bằng một tên thân mật khác: “Đại tướng nông dân”.
Cuối năm 1964, trước yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Chí Thanh được cử vào miền Nam, giữ các cương vị Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Bí thư Quân ủy Miền và Chính ủy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam. Tại chiến trường, ông cùng tập thể lãnh đạo phân tích thế và lực của ta, của địch, củng cố lực lượng chủ lực và tìm cách đánh phù hợp với chiến tranh nhân dân.
Ông động viên quân và dân miền Nam phải dám đánh Mỹ, tìm ra cách đánh Mỹ từ thực tiễn chiến trường. Tư tưởng “kiên quyết tiến công, liên tục tiến công” và phương châm “bám thắt lưng địch mà đánh” trở thành những định hướng quan trọng trong cuộc chiến đấu.
Nguyễn Chí Thanh không còn sống đến Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ông đột ngột qua đời ngày 6 tháng 7 năm 1967, khi mới 53 tuổi. Vì vậy, không nên viết rằng ông trực tiếp chỉ huy Tổng tiến công Mậu Thân. Tuy nhiên, những tư tưởng, chủ trương và sự chuẩn bị về lực lượng ở chiến trường miền Nam trước đó đã góp phần vào quá trình chuẩn bị cho cuộc đấu tranh về sau.
Hơn ba mươi năm hoạt động cách mạng, Nguyễn Chí Thanh đi qua nhiều cương vị: người cán bộ của Đảng, nhà lãnh đạo chính trị, vị tướng trong quân đội, người chỉ đạo nông nghiệp và người chính ủy ở chiến trường miền Nam. Điểm thống nhất trong mọi công việc của ông là sự sâu sát thực tiễn và lòng tin vào nhân dân.
Câu chuyện về ông vì thế không chỉ là câu chuyện của một vị Đại tướng. Đó còn là câu chuyện về một người luôn tìm sức mạnh trong đời sống của nhân dân: từ làng quê Thừa Thiên, những nhà tù đế quốc, chiến khu Bình – Trị – Thiên, cánh đồng miền Bắc đến chiến trường miền Nam. Ông để lại hình ảnh một người cộng sản kiên trung, một nhà lãnh đạo quyết đoán và một vị tướng luôn bắt đầu từ thực tế.
Ghi chú sử liệu
Nguyễn Chí Thanh có tên khai sinh là Nguyễn Vịnh, sinh năm 1914, quê tại thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; mất năm 1967.
Ông được phong quân hàm Đại tướng năm 1959. Các nguồn chính thống thường tôn vinh ông là nhà lãnh đạo chiến lược, nhà chính trị – quân sự xuất sắc, “Tướng du kích” và “Đại tướng nông dân”.
Ông mất trước Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, nên nội dung chỉ nên nói ông có đóng góp vào việc chuẩn bị tư tưởng, lực lượng và thế trận trước đó, không nói ông trực tiếp chỉ huy chiến dịch Mậu Thân.



