Nguyễn Chơn
VỊ TƯỚNG TRƯỞNG THÀNH TỪ CHIẾN TRƯỜNG KHU 5, NGƯỜI ANH HÙNG CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
Thượng tướng Nguyễn Chơn (1927–2015) là một trong những tướng lĩnh tiêu biểu của Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Tư lệnh Quân khu 5, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 2, Phó Tổng Tham mưu trưởng và Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Ông có gần nửa thế kỷ phục vụ trong quân đội, trưởng thành từ người chiến sĩ bình thường đến vị trí lãnh đạo, chỉ huy cấp cao. Đặc biệt, tên tuổi Nguyễn Chơn gắn bó sâu sắc với chiến trường Khu 5 trong hai cuộc kháng chiến và quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc sau ngày đất nước thống nhất.
1. Những năm đầu tham gia cách mạng
Nguyễn Chơn sinh tháng 12/1927 trong một gia đình nông dân tại xã Hòa Thắng, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.
Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông tham gia hoạt động thanh niên tại địa phương.
Ngày 15/2/1946, Nguyễn Chơn nhập ngũ, trở thành chiến sĩ Tiểu đoàn 19 của tỉnh Quảng Nam, bắt đầu cuộc đời quân ngũ kéo dài gần 50 năm.
Ngày 1/11/1949, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Nguyễn Chơn từng bước trưởng thành, lần lượt đảm nhiệm các chức vụ từ tiểu đội trưởng, trung đội trưởng đến cán bộ chỉ huy đại đội tại các đơn vị thuộc chiến trường Khu 5.
2. Trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
Sau năm 1954, Nguyễn Chơn tiếp tục phục vụ trong quân đội.
Từ tháng 5/1956 đến tháng 4/1958, ông được cử đi học tại Trường Sĩ quan Lục quân khóa 10.
Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo, ông tiếp tục công tác tại các đơn vị quân đội.
Từ tháng 4/1959 đến tháng 1/1965, Nguyễn Chơn là cán bộ tham mưu của Trung đoàn 1, còn được biết đến với tên gọi Trung đoàn Ba Gia, thuộc chiến trường Khu 5.
Trong những năm tiếp theo, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9, Trung đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Trung đoàn 1, Tham mưu phó, Tham mưu trưởng và Phó Tư lệnh Sư đoàn 2.
Đây là giai đoạn quan trọng trong quá trình trưởng thành của Nguyễn Chơn, khi ông trực tiếp tham gia nhiều nhiệm vụ chỉ huy tại chiến trường miền Trung.
Năm 1970, với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
3. Tư lệnh Sư đoàn 2 và dấu ấn mùa Xuân năm 1975
Từ tháng 10/1970 đến tháng 12/1976, Nguyễn Chơn lần lượt đảm nhiệm cương vị Tư lệnh Sư đoàn 2 và Sư đoàn 711 tại chiến trường Khu 5.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, ông trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 2 tham gia các nhiệm vụ quan trọng tại chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng.
Đặc biệt, đơn vị do ông chỉ huy góp phần vào thắng lợi của chiến dịch giải phóng Tam Kỳ và Đà Nẵng.
Thắng lợi này cùng với những chiến thắng trên các chiến trường khác đã góp phần tạo điều kiện cho cuộc Tổng tiến công tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau ngày 30/4/1975, Nguyễn Chơn tiếp tục phục vụ trong quân đội, thực hiện các nhiệm vụ mới trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
4. Đảm nhiệm cương vị Tư lệnh Quân đoàn 2
Sau một thời gian được cử đi học bổ túc văn hóa và học tập tại Học viện Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Chơn trở lại công tác chỉ huy.
Tháng 3/1979, ông được bổ nhiệm giữ chức Phó Tư lệnh Quân đoàn 2.
Đến tháng 12/1979, ông trở thành Tư lệnh Quân đoàn 2, đảm nhiệm cương vị này đến tháng 11/1983.
Trong thời gian công tác, ông tiếp tục được cử đi đào tạo tại Học viện Quân sự Vôrôsilốp ở Liên Xô, từ tháng 9/1982 đến tháng 11/1983.
Năm 1979, Nguyễn Chơn được phong quân hàm Thiếu tướng.
5. Trở lại Quân khu 5 và đảm nhiệm cương vị Tư lệnh
Tháng 12/1983, Nguyễn Chơn được điều động về Quân khu 5, giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng.
Đến tháng 12/1984, ông được giao quyền Tư lệnh Quân khu 5, sau đó chính thức được bổ nhiệm làm Tư lệnh.
Đây là thời kỳ Quân khu 5 thực hiện nhiều nhiệm vụ quốc phòng quan trọng trong điều kiện tình hình khu vực còn diễn biến phức tạp.
Trên cương vị Tư lệnh, Nguyễn Chơn cùng tập thể Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu lãnh đạo công tác xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ quân sự theo sự phân công của Bộ Quốc phòng.
Bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ địa bàn miền Trung – Tây Nguyên, Quân khu 5 còn tham gia thực hiện nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia.
Trong thời gian công tác, Nguyễn Chơn tiếp tục phát huy kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ huy tích lũy từ các cuộc kháng chiến, đồng thời chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ và nâng cao chất lượng tổ chức của lực lượng vũ trang.
Năm 1984, ông được phong quân hàm Trung tướng.
Tháng 7/1987, Nguyễn Chơn kết thúc nhiệm kỳ tại Quân khu 5 để nhận nhiệm vụ mới.
6. Những trọng trách tại Bộ Quốc phòng
Từ tháng 8/1987 đến tháng 11/1993, Nguyễn Chơn giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Năm 1988, ông được thăng quân hàm Thượng tướng.
Từ tháng 12/1993 đến tháng 12/1998, ông đảm nhiệm cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Trong thời gian công tác tại Bộ Quốc phòng, ông tiếp tục tham gia công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quân đội, góp phần thực hiện nhiệm vụ quốc phòng trong giai đoạn đất nước đẩy mạnh công cuộc đổi mới.
Ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI và khóa VII, đồng thời là đại biểu Quốc hội khóa VIII.
Tháng 1/1999, Nguyễn Chơn nghỉ hưu sau nhiều thập niên phục vụ trong quân đội.
7. Những phần thưởng và dấu ấn để lại
Với những đóng góp trong sự nghiệp cách mạng, Thượng tướng Nguyễn Chơn được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có:
Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (1970).
Huân chương Độc lập hạng Nhất.
Huân chương Quân công hạng Nhất, Nhì và Ba.
Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.
Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng.
Ngày 30/12/2015, Thượng tướng Nguyễn Chơn qua đời, hưởng thọ 88 tuổi.
Trong lịch sử Quân khu 5, Nguyễn Chơn được ghi nhớ là vị tướng trưởng thành từ chính chiến trường Khu 5, từng trực tiếp chỉ huy nhiều đơn vị quan trọng và sau này trở thành người đứng đầu lực lượng vũ trang Quân khu.
Cuộc đời ông là hành trình cống hiến bền bỉ, từ một người chiến sĩ nhập ngũ năm 1946 đến vị trí Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam.


