Nguyễn Chơn – Người chỉ huy từ Núi Thành đến những trận đánh làm nên nghệ thuật đánh Mỹ của Khu 5
Nguyễn Chơn (1927–2015), quê Hòa Thắng, Hòa Vang, Quảng Nam, là một trong những chỉ huy trưởng thành và nổi bật nhất của chiến trường Khu 5. Từ những trận đánh ở Quảng Nam đầu những năm 1960, đặc biệt là trận Trao năm 1961, đến Núi Thành, Ba Gia, Cẩm Khê, rồi các chiến dịch lớn sau này, ông góp phần hình thành và phát triển cách đánh chủ động, bất ngờ, đánh gần và tiêu diệt từng bộ phận quân địch. Ông sau này trở thành Tư lệnh Quân khu 5, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam

Thời kỳ lịch sử
Kháng chiến chống thực dân Pháp và đặc biệt kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; trọng tâm là chiến trường Khu 5 – Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Đà giai đoạn 1960–1975.
1. Người con Hòa Vang bước vào cuộc kháng chiến
Nguyễn Chơn sinh tháng 12/1927, quê xã Hòa Thắng, huyện Hòa Vang, Quảng Nam. Tháng 2/1946, ông nhập ngũ và bắt đầu con đường binh nghiệp kéo dài qua hai cuộc kháng chiến. Sau nhiều năm chiến đấu ở Liên khu 5, ông từng bước trưởng thành từ người lính thành cán bộ chỉ huy.
Quảng Nam là quê hương.
Khu 5 là chiến trường ông trưởng thành.
Và chính những năm tháng ở đây đã tạo nên phong cách chỉ huy đặc biệt của Nguyễn Chơn.
Ông không thích cách đánh phô trương.
Ông quan tâm đến một câu hỏi thực tế hơn:
Làm thế nào để một lực lượng nhỏ có thể đánh trúng một lực lượng lớn hơn và tiêu diệt được đối phương?
2. Trận Trao năm 1961 – chờ địch lọt vào trận địa
Năm 1961, tại dốc Trao, Quảng Nam, Nguyễn Chơn chỉ huy một lực lượng chỉ có 45 cán bộ, chiến sĩ phục kích một đại đội tăng cường của địch.
Địch hành quân tới.
Rồi dừng lại trên đỉnh dốc.
Nguyễn Chơn không cho nổ súng ngay.
Ông ngồi vào vị trí chỉ huy khẩu trung liên và chờ.
Ông đếm từng tên địch.
Cho đến khi 140 quân lọt vào tầm ngắm, ông mới ra lệnh nổ súng.
Trận đánh kéo dài khoảng 15 phút.
Lực lượng ta diệt gọn đại đội tăng cường, bắt sống 60 tên, thu toàn bộ vũ khí.
Đó là một trận đánh nhỏ.
Nhưng nó cho thấy rất rõ cách Nguyễn Chơn chỉ huy:
không đánh khi chưa có thời cơ.
Và khi thời cơ xuất hiện:
đánh thật nhanh, thật mạnh.
Chú thích: Khu vực chiến trường Quảng Nam gắn với trận Trao năm 1961 – một trong những trận đánh tiêu biểu thời kỳ đầu của Nguyễn Chơn.
Nguồn: Báo Quân đội nhân dân và tư liệu lịch sử Khu 5.
3. Từ những trận đánh nhỏ đến một cách đánh lớn
Những trận đánh như Trao giúp Nguyễn Chơn tích lũy kinh nghiệm.
Địa hình miền Trung có thể trở thành lợi thế.
Lực lượng nhỏ có thể tạo bất ngờ.
Một trận phục kích được chuẩn bị tốt có thể làm tan rã một lực lượng lớn hơn.
Điều quan trọng không phải là có nhiều vũ khí hơn đối phương.
Mà là:
chọn đúng nơi.
đúng lúc.
đúng mục tiêu.
Và quan trọng nhất:
tập trung sức mạnh vào thời điểm quyết định.
Đó cũng là những kinh nghiệm sau này được thể hiện trong các trận đánh lớn của Khu 5.
4. Núi Thành năm 1965 – khi quân Mỹ trực tiếp tham chiến
Năm 1965, quân Mỹ đổ bộ với quy mô lớn vào miền Trung.
Chu Lai – Núi Thành – Đà Nẵng trở thành những căn cứ quân sự quan trọng.
Khu 5 đứng trước một đối thủ có ưu thế vượt trội về máy bay, pháo binh, xe cơ giới và hỏa lực.
Nhưng chiến trường Khu 5 không lựa chọn cách đối đầu theo kiểu lấy hỏa lực chống hỏa lực.
Phương châm được hình thành rất rõ:
“Dám đánh Mỹ, biết đánh Mỹ và quyết đánh thắng Mỹ.”
Chiến thắng Núi Thành ngày 26/5/1965, khi 67 cán bộ, chiến sĩ ta tiêu diệt một đại đội Mỹ, trở thành một biểu tượng của cao trào đánh Mỹ trên chiến trường Khu 5.
Nguyễn Chơn là một trong những cán bộ chỉ huy tiêu biểu trưởng thành trong chính cao trào ấy.
5. Ba Gia – đánh điểm, diệt viện
Chiến dịch Ba Gia năm 1965 là một trong những chiến thắng lớn của Khu 5.
Chiến dịch diễn ra từ 28/5 đến 20/7/1965, nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng chủ lực địch, mở rộng vùng giải phóng và giữ hành lang chiến lược ở Trung Trung Bộ.
Điểm đặc biệt của Ba Gia nằm ở nghệ thuật:
đánh điểm – diệt viện.
Tập trung lực lượng đánh vào một mục tiêu.
Khi quân cứu viện xuất hiện:
đón đánh.
Khi đối phương bị chia cắt:
tiếp tục tiêu diệt từng bộ phận.
Đó là cách đánh phù hợp với điều kiện Khu 5:
Không cần sở hữu ưu thế tuyệt đối.
Chỉ cần tạo được ưu thế cục bộ đúng thời điểm.
6. Nghệ thuật “đánh gần”
Nguyễn Chơn hiểu rất rõ ưu thế của quân Mỹ.
Nếu để đối phương phát huy tối đa pháo binh và không quân, lực lượng ta sẽ gặp bất lợi lớn.
Vì vậy, một trong những phương thức được vận dụng là:
đánh gần.
Đưa bộ đội áp sát.
Bám sát đội hình địch.
Tấn công bất ngờ.
Buộc đối phương phải chiến đấu trong khoảng cách mà hỏa lực của họ khó phát huy đầy đủ.
Đây không chỉ là một kỹ thuật.
Nó là cách biến ưu thế của đối phương thành thứ khó sử dụng.
7. Từ người chỉ huy trận đánh đến người xây dựng đơn vị
Nguyễn Chơn không chỉ nổi bật ở khả năng trực tiếp chỉ huy.
Ông còn góp phần xây dựng những đơn vị chủ lực trưởng thành qua chiến đấu.
Trung đoàn 1, sau này mang tên Trung đoàn Ba Gia, trở thành một trong những đơn vị nổi tiếng của Khu 5.
Đơn vị ấy chiến đấu qua nhiều địa bàn.
Từ Quảng Ngãi đến Quảng Nam.
Từ đồng bằng đến vùng núi.
Từ đánh lực lượng ngụy đến đối đầu với quân Mỹ.
Và qua từng trận đánh, trình độ tổ chức chiến đấu ngày càng được nâng lên.
Chú thích: Trung đoàn 1 – Trung đoàn Ba Gia, một trong những đơn vị chủ lực tiêu biểu của Khu 5 thời chống Mỹ.
Nguồn: Báo Quân đội nhân dân và tư liệu Quân khu 5.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
8. Đà Nẵng năm 1968
Tết Mậu Thân 1968 đưa chiến tranh vào một không gian hoàn toàn khác.
Không còn chỉ là:
rừng núi.
đồng ruộng.
làng quê.
Mục tiêu là những đô thị và căn cứ quân sự lớn.
Đà Nẵng là một trong những trung tâm quân sự quan trọng nhất miền Trung.
Đánh vào đây đòi hỏi người chỉ huy phải có khả năng tổ chức lực lượng, nắm địa hình và xử lý tình huống nhanh chóng.
Nguyễn Chơn tiếp tục trưởng thành qua giai đoạn này.
Từ những trận phục kích cấp nhỏ ở Quảng Nam, ông đã bước vào những trận đánh có quy mô lớn hơn nhiều.
9. Từ Khu 5 đến những chiến trường rộng lớn hơn
Cuối năm 1970, Nguyễn Chơn được giao chỉ huy Sư đoàn 2.
Năm 1971, đơn vị tham gia Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào.
Năm 1972, ông tiếp tục chỉ huy trên chiến trường Tây Nguyên.
Những chiến trường mới đòi hỏi cách nhìn khác.
Nhưng nguyên tắc vẫn nhất quán:
nắm địch.
tạo thế.
tập trung lực lượng.
đánh vào điểm yếu.
tiêu diệt từng bộ phận.
Người chỉ huy trưởng thành từ Khu 5 đã mang những kinh nghiệm ấy ra những chiến trường rộng lớn hơn.
10. Mùa xuân 1975 – trở về quê hương
Mùa xuân 1975, cuộc chiến bước vào giai đoạn cuối.
Nguyễn Chơn chỉ huy lực lượng tham gia giải phóng Tam Kỳ, sau đó tiến về Đà Nẵng.
Đối với một người quê Hòa Vang, đây không chỉ là một chiến dịch quân sự.
Đó là sự trở về.
Hơn 30 năm trước, ông rời cuộc sống của một người thanh niên để nhập ngũ.
Qua hai cuộc kháng chiến, ông trưởng thành thành một vị tướng.
Và giờ đây, ông trở lại quê hương cùng những đơn vị tiến vào giải phóng Đà Nẵng.
Đà Nẵng được giải phóng ngày 29/3/1975.
Chú thích: Quân giải phóng tiến vào Đà Nẵng trong những ngày cuối tháng 3/1975.
Nguồn: Tư liệu lịch sử Quân khu 5.
11. Người chỉ huy và tư tưởng “đánh tiêu diệt”
Nếu phải chọn một điểm nổi bật nhất trong phong cách quân sự của Nguyễn Chơn, đó là tư tưởng đánh tiêu diệt.
Ông không coi một trận đánh chỉ là thắng khi chiếm được một vị trí.
Mục tiêu cuối cùng phải là:
làm cho đối phương mất khả năng chiến đấu.
Muốn vậy phải:
chọn đúng mục tiêu;
tạo thế có lợi;
tập trung lực lượng;
đánh bất ngờ;
đánh nhanh;
hạn chế thương vong của ta.
Đó là những kinh nghiệm được tôi luyện từ chính những trận đánh trên chiến trường Khu 5.
12. Một đời gắn với Khu 5
Sau năm 1975, Nguyễn Chơn tiếp tục giữ nhiều trọng trách trong quân đội.
Ông từng là Tư lệnh Quân khu 5, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông được phong quân hàm Thượng tướng và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Nhưng dù giữ những cương vị cao, tên tuổi ông vẫn gắn rất sâu với Khu 5.
Bởi đây là nơi ông học cách đánh.
Nơi ông trưởng thành.
Nơi những bài học quân sự của ông được hình thành qua thực tiễn chiến trường.
Và cũng là nơi quê hương ông nằm giữa một trong những chiến trường ác liệt nhất của hai cuộc kháng chiến.
Lời kết – Từ một khẩu trung liên ở dốc Trao
Năm 1961, Nguyễn Chơn ngồi bên khẩu trung liên và chờ 140 quân địch lọt vào tầm bắn.
Năm 1965, Khu 5 bước vào cuộc đối đầu trực tiếp với quân Mỹ.
Năm 1975, người chỉ huy ấy trở lại quê hương trong đội hình tiến về giải phóng Đà Nẵng.
Chú thích: Thượng tướng Nguyễn Chơn – người con Quảng Nam, một trong những chỉ huy tiêu biểu trưởng thành từ chiến trường Khu 5.
Nguồn: Báo Chính phủ và tư liệu Quân khu 5.
Ba mốc thời gian ấy nói lên gần như toàn bộ con đường trận mạc của ông:
một trận đánh nhỏ.
một chiến trường lớn.
một ngày giải phóng quê hương.
Nguyễn Chơn không phải người tạo ra một mình toàn bộ nghệ thuật đánh Mỹ của Khu 5. Đó là kết quả của trí tuệ và xương máu của cả quân dân Khu 5. Nhưng qua cuộc đời ông, có thể nhìn thấy rất rõ quá trình hình thành của cách đánh ấy:
dám đánh – biết đánh – đánh chủ động – đánh gần – tạo thế – tập trung lực lượng – và đánh tiêu diệt.
Từ dốc Trao, qua Núi Thành, Ba Gia, đến Đà Nẵng năm 1975, Nguyễn Chơn đã đi một chặng đường đặc biệt của một người lính Khu 5.
Từ người ngồi bên khẩu trung liên chờ địch lọt vào tầm bắn, ông trở thành vị tướng mang những bài học của chiến trường Quảng Nam đi suốt cuộc đời quân ngũ.

Thượng tướng Nguyễn Chơn


Lễ khai giảng tại ngôi trường mang tên vị tướng Nguyễn Chơn

Các đại biểu thực hiện nghi thức công bố đặt tên đường Nguyễn Chơn nằm tại Khu đô thị Phương Trang, quận Liên Chiểu - Ảnh: VGP/Thế Phong

UBND quận Liên Chiểu công bố Quyết định thành lập Giải khuyến học Nguyễn Chơn và trao quà hỗ trợ, động viên cho các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn - Ảnh: VGP/Thế Phong



