NGUYỄN CHƠN – TỪ NGƯỜI LÍNH QUẢNG NAM ĐẾN VỊ TƯỚNG TRƯỞNG THÀNH QUA CHIẾN TRẬN
Nguyễn Chơn sinh năm 1927, quê xã Hòa Thắng, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, nhập ngũ từ tháng 2-1946. Trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến, từ cán bộ đại đội ông từng bước trở thành Sư đoàn phó Sư đoàn 2 bộ binh, Quân khu 5. Ông ghi dấu ấn trong nhiều trận đánh lớn như Ba Gia năm 1965, Quang Thạnh năm 1967, cùng các chiến dịch tại Duy Xuyên, Khâm Đức năm 1968. Đặc biệt tại Ba Gia, đơn vị do ông chỉ huy tiêu diệt một tiểu đoàn đối phương, bắt 217 người và thu 180 súng. Ngày 15-2-1970, Nguyễn Chơn được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Nguyễn Chơn sinh năm 1927, tại xã Hòa Thắng, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.
Tháng 2 năm 1946, khi mới khoảng 19 tuổi, ông nhập ngũ. Đó là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang bước vào những năm tháng quyết liệt.
Chiến trường đầu tiên của Nguyễn Chơn cũng chính là quê hương Quảng Nam.
Từ những trận đánh đầu tiên, người chiến sĩ trẻ từng bước trưởng thành trong quân ngũ. Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Chơn lập nhiều thành tích và được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba.
Sau một thời gian học tập ở miền Bắc, ông trở lại chiến trường miền Nam.
Vẫn là miền Trung thân thuộc, nhưng cuộc chiến lúc này đã bước sang một giai đoạn mới.
Nguyễn Chơn trở lại với một quyết tâm mạnh mẽ: tiếp tục chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Từ một cán bộ cấp đại đội, ông lần lượt trưởng thành qua các cương vị chỉ huy tiểu đoàn, trung đoàn rồi sư đoàn.
Ở mỗi cương vị, Nguyễn Chơn đều thể hiện một đặc điểm nổi bật: kiên quyết tiến công nhưng luôn coi trọng việc nghiên cứu chiến trường và tổ chức lực lượng một cách tỉ mỉ.
Ông không chỉ đứng phía sau sở chỉ huy.
Trước mỗi trận đánh, Nguyễn Chơn thường sâu sát đơn vị, nắm tình hình, nghiên cứu phương án và cùng tập thể chỉ huy tìm cách xử trí những tình huống khó khăn.
Dấu ấn nổi bật trong cuộc đời chỉ huy của ông đến vào tháng 5 năm 1965, tại Ba Gia, Quảng Ngãi.
Khi ấy Nguyễn Chơn là tiểu đoàn trưởng.
Trận Ba Gia diễn ra quyết liệt. Để giành thắng lợi, người chỉ huy phải vừa nắm chắc diễn biến chiến trường, vừa biết lựa chọn thời điểm tổ chức lực lượng tiến công.
Nguyễn Chơn chỉ huy đơn vị tiến công kiên quyết và linh hoạt.
Kết quả, đơn vị của ông tiêu diệt một tiểu đoàn, bắt 217 người, trong đó có người chỉ huy tiểu đoàn, đồng thời thu 180 súng các loại.
Ba Gia trở thành một trong những trận đánh tiêu biểu trong quá trình trưởng thành của Nguyễn Chơn.
Nhưng chiến trường Khu 5 vẫn tiếp tục đặt ra những thử thách mới.
Năm 1967, Nguyễn Chơn chỉ huy tiểu đoàn tham gia trận Quang Thạnh.
Ngay từ trước khi nổ súng, đơn vị đã phải vượt qua hàng loạt khó khăn trong quá trình hành quân và trú quân. Yêu cầu đặt ra là phải đưa lực lượng đến đúng vị trí, đúng thời gian mà vẫn bảo đảm bí mật.
Nguyễn Chơn cùng cán bộ, chiến sĩ khắc phục từng trở ngại.
Đơn vị đến vị trí theo đúng kế hoạch.
Khi trận đánh bắt đầu, ông trực tiếp chỉ huy và động viên bộ đội liên tục tiến công.
Đối phương trong trận này là một đơn vị quân Nam Triều Tiên.
Cuộc chiến diễn ra quyết liệt, nhưng đơn vị do Nguyễn Chơn chỉ huy vẫn giữ vững thế tiến công, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn, hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Qua từng chiến dịch, kinh nghiệm chỉ huy của Nguyễn Chơn ngày càng được tích lũy.
Ông nghiên cứu những trận đánh đã qua, học hỏi kinh nghiệm của đồng đội và vận dụng vào thực tế chiến trường.
Đến Xuân 1968, Nguyễn Chơn đã đảm nhiệm cương vị chỉ huy trung đoàn.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy diễn ra trên toàn miền Nam. Tại chiến trường Quảng Nam, đơn vị của ông được giao phối hợp với các lực lượng bạn tiến công nhiều mục tiêu quan trọng.
Nguyễn Chơn chỉ huy trung đoàn hiệp đồng với đơn vị bạn tiến công Duy Xuyên và Khâm Đức.
Đây là những trận đánh mà lực lượng đối phương có ưu thế lớn về máy bay và pháo binh.
Hỏa lực mạnh có thể gây tổn thất lớn nếu đội hình tiến công bị giữ lại quá lâu ở bên ngoài.
Nguyễn Chơn lựa chọn một cách đánh quyết liệt.
Thọc sâu.
Một mũi tiến công được tổ chức đánh thẳng về phía sở chỉ huy lữ đoàn đối phương.
Đó là một quyết định táo bạo, nhằm đánh trực tiếp vào bộ phận chỉ huy thay vì để lực lượng bị cuốn vào cuộc chiến kéo dài với hệ thống phòng thủ bên ngoài.
Các mũi tiến công phát triển.
Theo tài liệu tuyên dương, trong trận đánh, đơn vị đã đánh thiệt hại nặng ba đại đội Mỹ, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chung.
Những trận Ba Gia, Quang Thạnh, Duy Xuyên và Khâm Đức chỉ là một phần trong quá trình chiến đấu của Nguyễn Chơn.
Ở các cương vị từ đại đội đến trung đoàn, với sự hỗ trợ của cấp trên và sức mạnh tập thể, ông đã tham gia chỉ huy các đơn vị tiêu diệt gọn một tiểu đoàn và 10 đại đội, đánh thiệt hại nặng một trung đoàn cùng nhiều chiến đoàn, tiểu đoàn khác.
Điều đáng chú ý là Nguyễn Chơn không xem kinh nghiệm chiến trường của bản thân là đủ.
Sau mỗi trận đánh, ông tiếp tục học.
Ông nghiên cứu đường lối, chủ trương và chính sách; tìm hiểu những kinh nghiệm được tổng kết từ các chiến dịch; đồng thời tự rút kinh nghiệm từ chính những trận đánh mình từng tham gia.
Nhờ quá trình rèn luyện ấy, từ một người lính nhập ngũ năm 1946, Nguyễn Chơn từng bước trưởng thành thành một cán bộ chỉ huy cấp sư đoàn.
Khi được tuyên dương Anh hùng, ông giữ cương vị Sư đoàn phó Sư đoàn 2 bộ binh, Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bên cạnh năng lực chỉ huy, Nguyễn Chơn còn được đồng đội ghi nhận bởi tinh thần kỷ luật, lối sống đoàn kết và ý thức xây dựng đơn vị. Ông coi trọng việc học hỏi tập thể, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ và xây dựng đơn vị ngày càng trưởng thành.
Những đóng góp trong chiến đấu của Nguyễn Chơn được ghi nhận bằng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba, bên cạnh Huân chương Chiến công hạng Ba đã được trao trong kháng chiến chống Pháp.
Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng Nguyễn Chơn danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Từ người chiến sĩ 19 tuổi bước vào quân ngũ năm 1946 đến Sư đoàn phó Sư đoàn 2, hành trình của Nguyễn Chơn trải dài qua hai cuộc kháng chiến. Ba Gia năm 1965 với 217 người bị bắt và 180 súng thu được, Quang Thạnh năm 1967 cùng những trận đánh tại Duy Xuyên, Khâm Đức năm 1968 đã ghi dấu quá trình trưởng thành của một cán bộ chỉ huy luôn coi trọng sự quyết đoán, sâu sát và học hỏi từ thực tiễn chiến trường.



