NGUYỄN CÔNG HẢO - KHI TRÁCH NHIỆM ĐẾN CÙNG BƯỚC QUÂN HÀNH
Điều còn lại sâu nhất là sự hiểu biết về con người: muốn một tập thể đứng được bên nhau phải có sự tôn trọng; muốn gánh trách nhiệm phải biết tự giữ mình; muốn nhận được lòng tin thì không thể chỉ dựa vào lời nói. Những bài học ấy theo tôi về sau như một phần nếp sống đã được hình thành từ những năm khoác áo lính.
Trách nhiệm có một cách riêng để làm con người thay đổi: từ chỗ chỉ lo cho mình, ta bắt đầu để tâm nhiều hơn đến những người đang đứng bên cạnh. Nhìn lại những năm quân ngũ, tôi thấy mình đã trưởng thành từ chính sự chuyển đổi ấy. Tôi là Nguyễn Công Hảo, sinh năm 1951, quê Thiệu Hóa. Năm 1978, tôi nhập ngũ, quãng phục vụ gắn với C3 D1 E442, Thanh Hóa, trong đó tôi được giao cương vị A trưởng. Đến năm 1982, tôi xuất ngũ. Đó là những năm đất nước đã thống nhất nhưng vẫn còn ở buổi đầu hậu chiến, khi cuộc sống của nhân dân còn nhiều thiếu thốn, công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh mới bắt đầu và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc vẫn đứng trước nhiều thử thách. Tôi vào quân đội không phải giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ như những lớp người đi trước, nhưng cũng chưa phải trong một thời kỳ hoàn toàn thanh bình, đủ đầy. Đó là giai đoạn đất nước vừa dựng lại cuộc sống vừa tiếp tục củng cố sức mạnh để bảo vệ thành quả của độc lập và thống nhất.
Năm 1978, tôi khoảng hai mươi bảy tuổi. Ở độ tuổi ấy, một người đã có nhiều suy nghĩ chín chắn hơn so với những chàng trai vừa bước qua tuổi mười tám, đôi mươi. Tôi hiểu rõ hơn ý nghĩa của sự xa cách và cũng ý thức sâu hơn rằng mỗi lựa chọn đều kéo theo trách nhiệm. Đất nước lúc ấy mới thống nhất được vài năm. Những dấu tích của một cuộc chiến kéo dài chưa thể biến mất, đời sống còn nhiều khó khăn, trong khi tình hình quốc phòng cuối thập niên 1970 cũng đặt ra những yêu cầu mới. Trong hoàn cảnh ấy, việc bước vào quân đội với tôi không phải một chuyến đi để tìm kiếm điều khác thường. Đó là lúc mình nhận lấy một phần nghĩa vụ trong giai đoạn đất nước đang rất cần những con người biết đặt lợi ích chung lên phía trước.
Rời nếp sống quen thuộc ở Thiệu Hóa, tôi bước vào quân ngũ với sự bình tĩnh của một người đã qua tuổi bồng bột nhưng trong lòng vẫn có những lưu luyến rất riêng. Người ta đi xa mới hiểu có những điều tưởng nhỏ lại bám sâu vào mình đến thế: cách nói của người quê mình, cảm giác được sống giữa những người thân thuộc, sự yên ổn mà trước đó ít khi phải gọi thành tên. Tôi mang theo những điều ấy vào quân đội và càng sống trong hàng ngũ càng hiểu rằng tình yêu quê hương không nhất thiết phải biểu hiện bằng những lời thật lớn. Đôi khi nó chỉ là ý thức rằng quê nhà muốn bình yên thì đất nước phải vững vàng, rằng những ngày đời thường của người thân luôn có mối liên hệ với công sức của rất nhiều người đang làm nhiệm vụ ở những vị trí khác nhau.
A trưởng và bài học đứng cùng anh em
Trong C3 D1 E442, tôi được giao cương vị A trưởng. Hai chữ ấy với tôi trước hết là một lời nhắc về trách nhiệm. Được giao phụ trách một phần tập thể không có nghĩa bản thân trở nên quan trọng hơn những người khác; trái lại, điều đó khiến tôi phải tự nhìn lại mình nhiều hơn. Khi chỉ chịu trách nhiệm cho bản thân, một phút nóng nảy có thể dừng ở chính mình. Nhưng khi có thêm trách nhiệm với anh em, cách nói, cách cư xử và thái độ trước khó khăn đều cần được cân nhắc kỹ hơn. Tôi dần hiểu rằng muốn người khác tôn trọng nguyên tắc, bản thân trước hết phải biết tôn trọng nguyên tắc; muốn mọi người giữ sự gắn bó thì chính mình không thể sống hời hợt với những người bên cạnh.
Cương vị A trưởng cũng giúp tôi nhìn con người bằng một cách khác. Trong một tập thể, không ai hoàn toàn giống ai. Có người nhanh nhẹn, có người thận trọng; có người dễ bộc lộ suy nghĩ, có người thường để nhiều chuyện ở trong lòng. Nếu chỉ nhìn ai đó qua một khoảnh khắc, rất dễ hiểu chưa hết về họ. Sống lâu trong quân ngũ, tôi học được rằng điều quan trọng không phải bắt mọi người trở nên giống nhau, mà là biết cách để những khác biệt vẫn có thể cùng đứng trong một nếp chung. Có lúc cần nhắc nhở, có lúc cần lắng nghe, có lúc chỉ cần giữ sự bình tĩnh để một chuyện nhỏ không trở thành khoảng cách lớn. Những bài học ấy không nằm trong một sự kiện duy nhất; chúng hình thành từ rất nhiều ngày cùng sống, cùng làm việc và cùng nhìn nhau thay đổi.
Qua thời gian, tôi càng hiểu trách nhiệm đối với tập thể không phải thứ chỉ thể hiện khi có việc lớn. Nó có mặt trong cách mình giữ lời, trong việc không để tâm trạng riêng làm ảnh hưởng đến những người xung quanh, trong thái độ biết nhận phần chưa đúng về mình khi cần. Một người được giao trách nhiệm mà lúc nào cũng muốn chứng minh mình đúng sẽ khó giữ được sự tin cậy. Ngược lại, biết tự điều chỉnh, biết nghĩ thêm cho người khác và giữ sự công bằng sẽ khiến mối quan hệ giữa con người trở nên bền hơn. Quân đội đã dạy tôi điều đó bằng chính đời sống hằng ngày. Sau này rời quân ngũ, tôi vẫn thấy bài học ấy còn nguyên giá trị: vị trí của một người có thể thay đổi, nhưng cách họ đối xử với trách nhiệm mới là điều người khác nhớ lâu.
Đồng đội qua những năm hậu chiến nhiều thử thách
Những năm từ 1978 đến 1982 thuộc về một giai đoạn đất nước còn rất khó khăn. Sau chiến tranh, Việt Nam phải khắc phục hậu quả nặng nề, ổn định đời sống và tổ chức lại nhiều mặt trong điều kiện kinh tế còn hạn chế. Cuối thập niên 1970, những cuộc xung đột ở các tuyến biên giới tiếp tục đặt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trước những thử thách mới. Tôi chỉ nhìn những sự kiện ấy như bối cảnh chung của quãng đời quân ngũ, không tự gắn bản thân với bất kỳ chiến trường hay hoạt động cụ thể nào ngoài những thông tin đã có về C3 D1 E442, Thanh Hóa. Nhưng bối cảnh ấy đủ để người lính hiểu rằng thống nhất đất nước không có nghĩa mọi gian nan đã khép lại. Sau chiến thắng vẫn còn một hành trình dài để giữ sự ổn định và dựng xây cuộc sống mới.
Trong hoàn cảnh ấy, đồng đội là những người ở gần nhau nhất. Chúng tôi có thể khác quê quán, tuổi tác và tính tình, nhưng cùng đứng trong hàng ngũ thì phải học cách dựa vào nhau bằng sự tin cậy. Tôi nhớ sâu nhất không phải một câu chuyện riêng biệt nào, mà là cảm giác của những con người cùng sống trong một giai đoạn còn nhiều thiếu thốn mà vẫn biết dành cho nhau sự tôn trọng. Có người ít nói nhưng khiến người khác yên tâm vì cách sống chắc chắn. Có người vui vẻ, giúp bầu không khí nhẹ đi vào những lúc ai cũng có phần mệt mỏi. Cũng có những khi giữa con người với nhau chưa thể hoàn toàn đồng thuận, nhưng chính việc biết dừng đúng lúc, không để tự ái lấn át tình nghĩa, đã giúp chúng tôi hiểu nhau hơn.
Với tôi, làm A trưởng càng khiến hai chữ đồng đội mang một ý nghĩa sâu hơn. Tôi không thể chỉ nghĩ đến việc anh em có làm đúng phần của mình hay không; còn phải hiểu mỗi người cũng có những nỗi niềm riêng. Ai cũng từ một nơi nào đó mà đến, ai cũng để lại phía sau những người thân và những dự định cá nhân. Khi nhớ điều ấy, cách nhìn nhau tự nhiên trở nên mềm hơn mà không mất đi sự nghiêm túc cần có. Tôi nhận ra một tập thể vững không phải vì không bao giờ có khó khăn, mà bởi khi khó khăn xuất hiện, con người vẫn giữ được sự tôn trọng dành cho nhau. Chính tình nghĩa ấy khiến những năm quân ngũ không chỉ còn là một quãng thực hiện nghĩa vụ, mà trở thành phần đời có những con người mình mãi không dễ quên.
Ngày trở về sau một chặng phục vụ
Đến năm 1982, tôi rời quân ngũ khi khoảng ba mươi mốt tuổi. Bốn năm phục vụ không phải khoảng thời gian quá dài nếu đặt bên cả một đời, nhưng đủ để tạo nên nhiều thay đổi trong cách một con người nhìn cuộc sống. Ngày vào quân đội, tôi đã là một thanh niên trưởng thành; ngày trở về, sự trưởng thành ấy có thêm chiều sâu của những năm sống trong tổ chức và gánh trách nhiệm với tập thể. Tôi hiểu hơn giá trị của sự bình tĩnh, biết có những việc không thể giải quyết bằng nóng vội, và càng thấm rằng muốn người khác tin mình thì trước tiên cách sống của mình phải tạo ra được sự tin cậy. Cương vị A trưởng thuộc về quân ngũ, nhưng những bài học từ cương vị ấy không dừng lại khi tôi rời hàng ngũ.
Đất nước năm 1982 vẫn còn đứng giữa những gian khó của thời hậu chiến. Cuộc sống chưa đầy đủ, kinh tế còn nhiều thử thách và công cuộc Đổi Mới phải bốn năm sau mới chính thức bắt đầu. Vì thế, trở lại đời thường khi ấy không có nghĩa bước ngay vào một quãng đời nhẹ nhàng. Nhưng quân ngũ cho tôi một cách đối diện khác với khó khăn. Tôi hiểu rằng nếu một việc chưa thể thay đổi ngay, điều cần trước hết là đừng để mình mất phương hướng; nếu một chặng đường dài, phải biết chia thành những bước vừa sức để tiếp tục. Những phẩm chất đó có thể không nhìn thấy như một vật mang theo, nhưng chúng ở trong cách suy nghĩ và cách một người bắt đầu lại cuộc sống sau khi rời quân đội.
Trở về Thiệu Hóa, quê hương với tôi cũng không còn hoàn toàn giống trong cảm nhận của những năm trước. Không phải quê nhà thay đổi đến mức xa lạ, mà chính người trở về đã có thêm trải nghiệm. Tôi hiểu sự yên ổn đáng quý hơn khi đã có những năm sống theo nhịp quân ngũ; hiểu sự gần gũi của người thân sâu hơn sau một quãng xa cách; và hiểu rằng bình yên của một miền quê không tồn tại riêng lẻ với vận mệnh đất nước. Từ đó, những năm 1978–1982 ở lại trong tôi không như một khoảng tách biệt khỏi đời thường, mà như một lớp nền giúp mình bước vào phần đời tiếp theo với sự chắc chắn hơn.
Điều ở lại không cần nói thành lời
Càng nhiều năm trôi qua, tôi càng thấy giá trị của đời quân ngũ không nằm ở việc có bao nhiêu câu chuyện để kể, mà ở cách những năm ấy đã âm thầm sửa đổi một con người. Tôi từng sống trong C3 D1 E442, Thanh Hóa, từng được giao trách nhiệm A trưởng trong những năm đầu hậu chiến còn đầy khó khăn. Điều còn lại sâu nhất là sự hiểu biết về con người: muốn một tập thể đứng được bên nhau phải có sự tôn trọng; muốn gánh trách nhiệm phải biết tự giữ mình; muốn nhận được lòng tin thì không thể chỉ dựa vào lời nói. Những bài học ấy theo tôi về sau như một phần nếp sống đã được hình thành từ những năm khoác áo lính.
Thế hệ hôm nay không cần lặp lại hoàn cảnh của người đi trước để chứng minh rằng mình hiểu lịch sử. Điều đáng quý nhất của hòa bình chính là con cháu được sống một cuộc sống khác, được có nhiều lựa chọn hơn và có thể dành tuổi thanh xuân cho những ước mơ của riêng mình. Nhưng một cuộc sống có nhiều cơ hội sẽ càng đẹp nếu con người biết mình đang đứng trên nền tảng nào. Biết đất nước từng có những năm rất khó khăn, biết đã có nhiều người rời cuộc sống riêng để đứng trong hàng ngũ, người trẻ sẽ hiểu rằng lòng biết ơn không chỉ nằm trong những ngày lễ hay những lời trang trọng. Nó nằm trong cách sống có trách nhiệm, biết quý công sức của người khác và không thờ ơ trước những điều thuộc về cộng đồng.
Sau nhiều năm, tôi nghĩ quá khứ giống như một đường vân nằm sâu trong thớ gỗ: không cần phô ra ngoài vẫn làm nên độ chắc của cả khối. Những năm quân ngũ cũng ở lại trong con người theo cách ấy. Chúng nằm trong cách ta nhìn người bên cạnh, trong việc biết nhường một phần cái tôi để giữ nghĩa tình, trong thái độ không dễ buông xuôi khi gặp điều khó. Nếu con cháu sau này còn giữ được sự tử tế, lòng kính trọng với người đi trước và ý thức gìn giữ cuộc sống bình yên đang có, thì những năm tháng của chúng tôi đã không trôi qua vô nghĩa. Đó cũng là lời cảm ơn sâu nhất dành cho một thế hệ đã từng đứng cùng nhau khi đất nước đang cần những bàn tay chung sức.



