Nguyễn Công Tiễu – người đem bí mật của bèo hoa dâu ra khỏi lũy tre
Từ một loài bèo nhỏ trên ruộng quê Hưng Yên, Nguyễn Công Tiễu mở đường nghiên cứu nông học, phổ biến tri thức bằng tiếng Việt và dành cả đời đưa khoa học đến gần người dân.
Trên mặt ruộng quê Phù Cừ, bèo hoa dâu chỉ là một lớp cây nhỏ, mỏng và mềm, có thể bị người qua đường xem như thứ cỏ nước vô danh. Nhưng dưới kính hiển vi của Nguyễn Công Tiễu, những cánh bèo ấy lại mở ra một câu chuyện lớn: câu chuyện về cách khoa học có thể bước vào đồng ruộng, giúp người nông dân hiểu rõ điều họ đã làm bằng kinh nghiệm qua nhiều thế hệ.
Nguyễn Công Tiễu sinh năm 1892 tại làng Trà Bồ, nay thuộc xã Phan Sào Nam, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên. Quê ông nằm trong vùng canh tác bèo hoa dâu lâu đời của đồng bằng Bắc Bộ. Người dân nuôi bèo làm phân xanh, nhưng kỹ thuật giữ giống, nhân bèo và sử dụng bèo thường chỉ được truyền lại trong phạm vi hẹp. Những điều tạo nên màu xanh tốt tươi của ruộng lúa vẫn bị bao phủ bởi kinh nghiệm và những lời giải thích mang tính bí truyền.
Sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Nông Lâm năm 1912, Nguyễn Công Tiễu không quay lưng với tri thức của người nông dân. Ông trở về quan sát chính những thửa ruộng quen thuộc, đặt kinh nghiệm dân gian bên cạnh phương pháp nghiên cứu hiện đại. Bèo hoa dâu trở thành một trong những đối tượng được ông dành nhiều tâm sức khảo cứu.
Giá trị của bèo không chỉ nằm ở việc nó phân hủy thành chất hữu cơ. Trong lá bèo tồn tại một sinh vật cộng sinh có khả năng cố định nitơ từ không khí, biến nguồn nitơ ấy thành dạng dinh dưỡng có ích cho cây trồng. Nhờ vậy, bèo hoa dâu có thể trở thành nguồn phân xanh giàu đạm cho ruộng lúa. Điều nông dân từng nhận biết qua màu lúa và năng suất đã dần được giải thích bằng cơ sở sinh học.
Năm 1930, công trình bằng tiếng Pháp của Nguyễn Công Tiễu về việc trồng bèo hoa dâu làm phân xanh được đăng trên Bulletin économique de l’Indochine. Những khảo cứu của ông còn được giới thiệu tại một hội nghị khoa học khu vực Thái Bình Dương. Trong bối cảnh các tổ chức nghiên cứu ở Đông Dương gần như do người Pháp nắm giữ, Nguyễn Công Tiễu trở thành người Việt hiếm hoi, có tài liệu ghi nhận là người Việt duy nhất trong Hội đồng Khảo cứu khoa học Đông Dương.
Nhưng với ông, một kết quả nghiên cứu chỉ thật sự có ý nghĩa khi nó quay trở lại phục vụ người dân. Ông công bố kiến thức về đặc điểm của bèo, cách giữ giống qua mùa nóng và phương pháp sử dụng bèo làm phân bón. Các công trình như Những điều bí mật về bèo hoa dâu và Khảo cứu về bèo hoa dâu, xuất bản năm 1934, cho thấy ông muốn giải thích bằng khoa học những điều từng bị xem là bí quyết riêng của một số làng nghề.
Ở điểm ấy, Nguyễn Công Tiễu không chỉ là người nghiên cứu cây trồng. Ông còn góp phần phá bỏ bức tường ngăn cách giữa tri thức chuyên môn và cuộc sống thường ngày.
Ngày 1 tháng 7 năm 1931, từ ngôi nhà mang tên Thủy Tiên Trang trên đường Ngọc Hà, gần Vườn Bách Thảo Hà Nội, ông cho ra mắt số đầu tiên của Khoa học Tạp chí. Ông vừa là chủ nhiệm, chủ bút, vừa là một trong những cây bút chính của tờ báo.
Tạp chí có khổ gần bằng một tờ giấy A4 ngày nay, ban đầu phát hành hai kỳ mỗi tháng với giá bán lẻ 15 xu. Trên bìa báo ghi rõ đây là “cơ quan truyền bá các khoa học”. Mục tiêu ấy được thực hiện bằng những bài viết về nông nghiệp, y học, vệ sinh, thiên văn, vật lý, hóa học, nghề thủ công, các phát minh và chân dung danh nhân khoa học.
Đáng chú ý, tờ báo không chỉ dịch kiến thức từ nước ngoài. Nguyễn Công Tiễu dành chỗ giới thiệu những sáng kiến của người Việt, trả lời câu hỏi của độc giả và tranh luận về cách xây dựng thuật ngữ khoa học bằng tiếng Việt. Có bài của bạn đọc còn được gửi cho người có chuyên môn thẩm định trước khi đăng—một cách làm gần với quy trình phản biện khoa học sau này.
Theo một nghiên cứu về lịch sử tờ báo, mỗi kỳ Khoa học Tạp chí từng phát hành khoảng 2.000 bản. Con số không lớn nếu so với các tuần báo văn chương đương thời, nhưng đáng kể đối với một tờ báo chuyên về khoa học trong xã hội mà hơn 90% dân số sống bằng nông nghiệp. Báo tồn tại qua hơn chín năm, đến tháng 8 năm 1940 mới đình bản sau số 232, trong hoàn cảnh chiến tranh khiến giấy in ngày càng khan hiếm.
Nguyễn Công Tiễu cũng quan tâm đến năng lượng và máy móc. Cùng Trần Công Tiến, ông nghiên cứu một thiết bị sử dụng ánh sáng Mặt Trời, được gọi là turbine solaire Tiêu–Tiên. Trong chuyến sang Pháp năm 1937, ông đã giới thiệu thiết bị này tại một hội nghị nghiên cứu khoa học thuộc địa.
Chuyến đi châu Âu không biến ông thành một du khách chỉ ngắm những đô thị tráng lệ. Ông tìm hiểu các vùng nông thôn, cách tổ chức sản xuất và thị trường nông sản; ghi lại địa chỉ những đơn vị kinh doanh gạo, chè, cà-phê, hồ tiêu để người sản xuất trong nước có thêm thông tin tìm đầu ra. Những ghi chép ấy sau đó được đăng nhiều kỳ trên Khoa học Tạp chí. Dù đứng trước một cỗ máy mới hay một gian triển lãm hiện đại, câu hỏi ông thường hướng tới vẫn là: điều này có thể giúp gì cho đất nước và người dân Việt Nam?
Những năm cuối đời, thị lực Nguyễn Công Tiễu suy giảm rồi ông trở thành người khiếm thị. Nhưng hoàn cảnh ấy lại đưa ông tới một công việc khác. Năm 1968, khi Nhà nước cho phép xúc tiến thành lập tổ chức của người mù, ông được cử tham gia và đứng đầu ban trù bị. Từ một người từng miệt mài quan sát sự sống qua kính hiển vi, ông tiếp tục dùng hiểu biết và uy tín của mình để góp phần mở đường cho cộng đồng những người không còn nhìn thấy ánh sáng.
Nguyễn Công Tiễu qua đời năm 1976. Sau ông là những công trình về bèo hoa dâu, hàng trăm số báo khoa học và một cách nghĩ vẫn còn nguyên giá trị: khoa học không nên là tài sản khép kín của một nhóm người. Nó phải được giải thích bằng ngôn ngữ người dân có thể hiểu, được kiểm nghiệm trên những vấn đề người dân đang gặp và cuối cùng phải trở lại phục vụ cuộc sống.
Bởi vậy, di sản của Nguyễn Công Tiễu không chỉ nằm trong một loài bèo xanh. Nó nằm trong hành trình đưa tri thức ra khỏi phòng khảo cứu, qua trang báo tiếng Việt, rồi trở về với những thửa ruộng nơi câu hỏi khoa học đầu tiên của ông đã bắt đầu.


